Syndicate content

CNTT

Thành phố Seoul "thông minh" như thế nào

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Seoul, là một trong những thành phố công nghệ nhất thế giới, xếp hạng đầu trong Thăm dò chính phủ điện tử của Liên hợp quốc kể từ năm 2003. Thành phố này cũng là đất nước của các game mạng.

(ICTPress) - Seoul, Hàn Quốc, là một trong những thành phố công nghệ nhất thế giới, xếp hạng đầu trong Thăm dò chính phủ điện tử (CPĐT) của Liên hợp quốc kể từ năm 2003. Thành phố này cũng là đất nước của các trò chơi (game) mạng.

Kế hoạch “Smart Seoul 2015” (Seoul thông minh 2015) được công bố tháng 6/2011 để nâng danh tiếng của Seoul như là thành phố đi đầu về ICT toàn cầu bằng cách thúc đẩy sự bền vững và cạnh tranh của thành phố này nhờ các công nghệ thông minh. Seoul "thông minh" là tiếp nối của kế hoạch u-City (u‑Seoul), đã áp dụng các công nghệ điện toán mọi nơi để đẩy mạnh sự cạnh tranh của thành phố này.

Trong khi u-Seoul nâng cấp việc cung cấp các dịch vụ bằng hạ tầng của thành phố truyền thống (như vận tải và an ninh), thì kế hoạch cũng chưa thành công trong việc nâng cao chất lượng đời sống của các công dân Seoul. “Smart Seoul 2015” hướng tới nhiều người hơn và không chỉ để triển khai càng nhiều công nghệ thông minh càng tốt, mà còn hình thành mối quan hệ cộng tác nhiều hơn giữa thành phố và các công dân của thành phố.

Các thiết bị thông minh cho mọi công dân

Mạng lưới tổng thể ở Seoul bao gồm các mạng di động và cố định cáp quang băng rộng tốc độ cao, như WiFi và công nghệ giao tiếp trường gần (NFC). Một trụ cột chính của Seoul thông minh là tăng cường tiếp cận các thiết bị thông minh và để đào tạo những người sử dụng mới trong các hoạt động của họ, do đó tiếng nói của tất cả các công dân đều được lắng nghe.

Năm 2012, Seoul bắt đầu cung cấp các thiết bị thông minh đời cũ cho các hộ gia đình thu nhập thấp và có nhu cầu khác. Thị trường ICT phát triển nhanh và nhiều người sử dụng thiết bị thông minh thường mua các sản phẩm mới ngay khi họ thay thiết bị vẫn còn trong vòng đời sử dụng. Các công dân được khuyến khích - đặc biệt giảm thuế trong phạm vi 50 - 100 USD/thiết bị - để làm từ thiện những chiếc máy cũ khi mua những máy mới. Sau khi những chiếc điện thoại này được các nhà sản xuất đánh giá và sửa chữa, những chiếc máy này được cấp miễn phí cho những người dân có thu nhập thấp.

Chính quyền thủ đô Seoul đang thử nghiệm một dự án trung tâm làm việc thông minh, cho phép các công chức nhà nước làm việc từ 10 văn phòng - các trung tâm làm việc thông minh - được đặt gần nhà họ nhất. Các công chức ở các trung tâm làm việc thông minh đã tiếp cận với phần mềm nhóm và các hệ thống hội nghị điện thoại, đảm bảo rằng việc họ không có mặt tại Tòa Thị chính thành phố vẫn đạt hiệu suất công việc. Seoul dự định với dự án làm việc thông minh (Smart Work) sẽ cắt giảm 30% viên chức của thành phố vào năm 2015.

Công cụ đo lường thông minh

Seoul đang triển khai một kế hoạch đo lường thông minh với mục tiêu giảm tổng năng lượng được mà Seoul sử dụng xuống còn 10%. Dự án này đã bắt đầu vào năm 2012, với một kiểm thử liên quan đến lắp đặt 1000 dụng cụ đo thông minh. Các dụng cụ này cung cấp cho các hộ gia đình, văn phòng và những chủ nhà máy các báo cáo thời gian thực về việc tiêu thụ điện, nước và gas. Các thông tin này được thể hiện luôn bằng đơn vị tiền tệ và được kèm theo các chi tiết về các phần tiêu thụ năng lượng và các cách để điều chỉnh những phần đó để giảm các chi phí năng lượng.

Một dự án thử nghiệm đo lường thông minh quốc gia, được hoàn tất vào năm 2008, cho thấy 84% những người tham gia đã kiểm tra tình trạng thông tin năng lượng của mình 1 lần/ngày trở lên; 60% cho biết dự án hữu ích để giảm sử dụng năng lượng, và 71% đã bày tỏ mong muốn tham gia vào các dự án tương tự trong tương lai.

Các dịch vụ an toàn

Là một phần của u-Seoul, một dịch vụ an toàn đã và đang vận hành kể từ tháng 4/2008. Dịch vụ này ứng dụng các công nghệ CCTV và dựa trên vị trí hiện đại để thông báo cho các cơ quan và các thành viên gia đình trong trường hợp khẩn cấp gồm trẻ em, người tàn tật, người già và mắc bệnh Alzheimer. Một thiết bị thông minh đã được phát triển vì mục đích này. Khi người sở hữu thiết bị rời một khu vực an toàn được thiết kế hoặc bấm nút một khẩn cấp, một cảnh báo sẽ được gửi tới những người bảo vệ, cảnh sát, các bộ phận phòng cháy hay các trung tâm kiểm soát CCTV.

Để tận dụng triệt để dự án u-Seoul, các công dân đã được yêu cầu đăng ký với các nhà mạng đáp ứng mục đích này. Hỗ trợ các hộ gia đình thu nhập thấp và đặc biệt các nhóm nguy cơ cao, Seoul thường xuyên cung cấp các thiết bị cảnh báo khẩn cấp miễn phí hoặc có giá rất rẻ, để hướng tới 50.000 người sử dụng đăng ký vào năm 2014.

Các ứng dụng sáng tạo

Eun-pyeong là một quận của Seoul, và kế hoạch Eun-pyeong u‑City, bắt đầu vào năm 2006 và được hoàn thành vào tháng 3/2011, hiện có 45.000 người tham gia. Các kết nối của thành phố thông minh cho phép các công dân ở quận này nhận các thông tin trực tuyến qua các thiết bị thông minh trên các bức tường của phòng khách nhà họ. Về việc công dân quan tâm tới vấn đề an ninh, các máy quay CCTV thông minh được lắp đặt ở mọi ngóc ngách đường phố sẽ tự động theo dõi những người đột nhập vào nhà riêng. Nếu một người tàn tật hay một người già mang thiết bị giám sát vị trí rời khỏi Eun-pyeong hoặc nhấn chuông khẩn cấp trên thiết bị, vị trí của họ sẽ được tự động gửi đến những người bảo vệ bằng tin nhắn. Các đèn đường phố công nghệ cao của Seoul sử dụng, phát audio và cho phép người dân truy cập Internet di động. Một bản tin số sẽ cung cấp tin tức, lịch trình xe bus và các thông tin thực tế khác cho những người dân và khách du lịch. Cuối cùng, dịch vụ u-Green của Seoul sẽ giám sát các yếu tố như nước và chất lượng không chí thông qua một mạng lưới các bộ cảm biến, truyền thông tin này trực tiếp đến Ban Truyền thông (Media Board) và các thiết bị ở các phòng khách của công dân.

Chính quyền thành phố Seoul vận hành một trung tâm khai thác hợp nhất u-City, quản trị các mạng ICT mọi nơi, thu thập và nắm bắt các thông tin quan trọng của thành phố. Hệ thống đặt chỗ trực tuyến thế hệ kế tiếp của Seoul cho phép các công dân tìm kiếm, đặt chỗ và trả phí các dịch vụ công tức thời. Hệ thống đặt chỗ một cửa, tích hợp liệt kê hơn 150 dịch vụ theo các tiêu chí như giáo dục, hạ tầng, du lịch văn hóa, các mặt hàng và chữa bệnh. Hệ thống đặt chỗ này đã có hơn 30.000 dịch vụ được Chính quyền thành phố Seoul và các chính quyền quận cung cấp.

Kể từ năm 2001, chính quyền thành phố Seoul đã tăng cường các khả năng của hệ thống thông tin 3 chiều (3D), một ứng dụng bản đồ cung cấp các thông tin đường phố 3D và cho phép cung cấp các dịch vụ thông minh mới. Các dịch vụ mới này được công bố năm 2008: các thông tin địa lý cho phép người sử dụng xem xét đường phố; các chi tiết về các điểm thu hút khách du lịch, mang đến cho người sử dụng một tour Seoul ảo; và một ứng dụng cho phép các nhà hoạch định thành phố mô phỏng sự phát triển hay cải tạo hạ tầng. Chất lượng thông tin 3D đã được nâng cấp tiếp vào năm 2009, và hệ thống sẽ phù hợp để giám sát môi trường. Ví dụ, các mô phỏng ngập lụt được phát triển năm 2012 giúp dự báo các vùng nào bị ảnh hưởng tồi tệ từ các trận lụt, theo đó cho phép sự phát triển các cơ chế phản ứng ngập lụt, theo đó có thể xây dựng các cơ chế phản ứng ngập lụt trước.

Được giới thiệu vào năm 2009, các bến xe bus u‑Shelter đã kết hợp ICT hiện đại để cung cấp cho các công dân một loạt các thiết bị thông minh, trong đó có thông tin về các tuyến xe bus, bản đồ và dự báo thời tiết.

Chính quyền thành phố Seoul cung cấp tất cả các thông tin quản trị và trao thưởng việc sử dụng hữu ích nhất thông tin này của khu vực tư nhân hay các công dân qua cuộc thi ứng dụng công, bắt đầu vào năm 2010. Các ứng dụng tốt nhất được sản xuất miễn phí để cung cấp cho mọi người.

Hệ thống thanh toán di động dựa trên NFC, được sản xuất nhờ sự hợp tác công ty, được dành cho mọi công dân có một thiết bị thông minh hay một thẻ di động. Mọi người có thể thanh toán cho các mua bán bằng cách chạm vào các điện thoại thông minh đến một máy đọc chuyên dụng, nắm bắt các thông tin quan trọng để giao dịch. Dịch vụ này cũng cho phép chuyển tiền từ một người sử dụng thiết bị thông minh đến người sử dụng khác.

Ứng dụng HomePlus được khu vực tư nhân phát triển cho phép các giao dịch tại các cửa hàng của HomePlus (được tìm thấy ở các tấm bảng yết thị đường phố, với mỗi giao dịch sử dụng một mã vạch riêng). Các khách hàng có thể mua hàng hóa trong khi di chuyển, nhận chuyển phát tại gia định ngay sau đó trong ngày. Cửa hàng ảo HomePlus đầu tiên được khai trương vào tháng 8/2011.

Một ứng dụng khác được tư nhân phát triển là School Newsletter, ứng dụng kết nối các trường học với các bậc phụ huynh học sinh, thông báo tức thời cho các cha mẹ về những thay đổi về lịch học hay các đồ vật mà học sinh được yêu cầu mang tới trường cho các bài học của ngày kế tiếp.

Thị trưởng thành phố Seoul, ông Park Won-soon, cho biết “chìa khóa để trở thành một xã hội thông minh là “giao tiếp” hoàn toàn ở một cấp độ khác. Ví dụ, một thành phố thông minh gồm giao tiếp giữa người với người, mọi người với các cơ quan, và các công dân với các không gian chính quyền, với những con người có vị trí trung tâm trong mọi việc. Một thành phố thông minh có đặc điểm là cấp độ chia sẻ vô hạn của thành phố đó”.

Báo cáo công nghệ của Liên minh Viễn thông quốc tế về
“Các thành phố thông minh - Seoul: một trường hợp điển hình”.

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT
Viễn thông

Nhân viên đảm nhận vị trí an ninh mạng quan trọng Huawei yêu cầu gì?

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Nhiều công ty cho rằng nhân viên là tài sản quan trọng nhất của họ, điều này hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, từ khía cạnh an ninh, họ cũng có thể là nhược điểm lớn nhất của công ty.

(ICTPress) - Nhiều công ty cho rằng nhân viên là tài sản quan trọng nhất của họ, điều này hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, từ khía cạnh an ninh, họ cũng có thể là nhược điểm lớn nhất của công ty.

Phương thức tuyển dụng, đào tạo và khuyến khích nhân viên cũng như việc quản lý khả năng làm việc của họ, thường quyết định sự khác biệt giữa thành công và thất bại - không chỉ đối với an ninh mạng mà còn đối với việc hình thành chiến lược tổng thể của công ty. 

Đối với nhân viên đảm nhận các vị trí quan trọng về an ninh mạng, Huawei đã yêu cầu như sau:

Trước khi tuyển dụng nhân viên vào công ty, sẽ thực hiện hiệu chỉnh cơ sở để đảm bảo nhân viên tiềm năng có đủ nền tảng phù hợp với các yêu cầu của khách hàng đối với vị trí đó. Huawei sử dụng một mẫu chi tiết và thống nhất với các yêu cầu về an ninh mạng được xây dựng trong quy trình “xem xét học vấn” tìm hiều và lựa chọn ứng viên. Hiệu chỉnh trước khi tuyển dụng được áp dụng đối với tuyển dụng bên ngoài và phân bổ nhân viên hiện có trong nội bộ.

Khi các nhân viên được nhận vào làm việc, Huawei áp dụng các tiêu chí trình độ và chứng nhận công việc để hướng dẫn họ nâng cao nhận thức của mình và cải thiện các kỹ năng liên quan, đồng thời cũng thực hiện kiểm tra an ninh thường xuyên.

Đối với các hành vi của nhân viên đảm nhận các vị trí quan trọng về an ninh mạng, tiến hành xem xét đạo đức liên quan đến an ninh mạng nhằm kiểm tra xem họ có vi phạm luật pháp không, nhờ đó đảm bảo các hành vi của nhân viên đó phù hợp và đúng đắn.

Khi nhân viên thôi việc, hoặc khi nhân viên thôi giữ chức vụ quan trọng, Huawei sử dụng các trạm kiểm soát ở trong quy trình hiệu chỉnh khi chấm dứt công việc nhằm hướng dẫn Nguồn nhân lực và nhân sự về an ninh mạng xóa bỏ hoặc thay đổi đặc quyền và di chuyển tài sản của nhân viên, khi cần thiết. Hiệu chỉnh khi thôi việc được áp dụng đối với tái phân bổ nhân viên trong nội bộ và từ chức.

Phát triển kỹ năng và kiến thức của nhân viên để họ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả là một phần quan trọng trong văn hóa dựa trên hiệu quả của Huawei. Huawei phát triển kế hoạch nâng cao năng lực an ninh riêng và các khóa cơ bản nhằm nâng cao năng lực an ninh mạng của nhân viên thong qua các cơ chế học hỏi mang tính hệ thống của chúng tôi. Huawei hướng tới mục tiêu nâng cao hiểu biết và kỹ năng về an ninh mạng của nhân viên giữ vị trí quan trọng để giảm những hành vi không tuân thủ của nhân viên. Đồng thời, Huawei cũng hướng dẫn nhân viên chủ động học hỏi để bổ sung thêm vào kiến thức được đào tạo thụ động. Ngoài ra, đối với năng lực cần thiết trong những vị trí quan trọng về an ninh mạng ở những phòng ban kinh doanh khác nhau, Huawei đã phát triển các khóa theo yêu cầu và bải kiểm tra. Huawei cung cấp cơ hội học tập và các đợt kiểm tra hàng năm cho nhân viên nhằm thúc đẩy họ học tập một cách chủ động và trách nhiệm. Nhiều hoạt động nâng cao năng lực hướng tới thực hành được thực hiện nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng của nhân viên giữ những vị trí quan trọng. Ví dụ, tổ chức các bài giảng về an ninh mạng, các diễn đàn về an ninh mạng và kho dữ liệu về các tình huống an ninh mạng. Nhằm đánh giá sự cải thiện năng lực của nhân viên, Huawei đã áp dụng mô hình Kirkpatrick (http://www.c-tpat.com/) và sử dụng các phương pháp như điều tra về sự thỏa mãn đối với khóa đào tạo và các bài kiểm tra nhằm đánh giá hiệu quả của việc nâng cao năng lực.

Huawei đã áp dụng hệ thống trách nhiệm an ninh  mạng nghiêm ngặt vốn thực hiện các cơ chế giải trình chính thức, yêu cầu mỗi nhân viên phải giải trình về những việc mình làm và hậu quả của những hành động đó, không chỉ xét trên khía cạnh công nghệ mà gồm cả luật pháp. Nhân viên của Huawei biết rằng khi xảy ra vấn đề an ninh mạng, khách hàng, công ty và từng cá nhân có thể bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng. Vì vậy, dù hành vi là vô ý hay cố ý, chúng tôi cũng thực hiện quy trình chính thức dựa trên bối cảnh và hậu quả thực tế. Chúng tôi cũng đã xác định bảy loại vi phạm và năm bối cảnh kinh doanh theo tình trạng an ninh mạng ở những quốc gia và khu vực khác nhau, gồm châu Âu và Mỹ. Dựa vào đó, Huawei đã công khai Hệ thống giải trình về việc vi phạm an ninh mạng, chúng tôi đã nêu rõ hậu quả đối với mỗi cá nhân khi vi phạm an ninh mạng.

Điểm khởi đầu của Huawei là nhân viên, nhân viên của hầu hết các công ty đến để làm tốt nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, nhân viên có thể chứng kiến đồng nghiệp của mình làm những việc mà khiến họ không thoải mái, do đơn giản là họ làm sai, về mặt đạo đức họ nghĩ đó là sai, hoặc họ không đúng, nhưng muốn ai đó biết về đạo đức. Cũng giống như các tổ chức khác, Huawei cũng nhận biết các tình huống đó và cung cấp kênh cảnh báo vi phạm nhằm báo cáo tình huống vi phạm nghi ngờ thông qua quy trình Hướng dẫn Đạo đức Kinh doanh (BCG).

 XT

Sách Trắng của Huawei về "Viễn cảnh an ninh mạng"

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Thiết bị di động cho kết quả thử HIV/AIDS chỉ trong 1 giờ

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Công nghệ này có tiềm năng cách mạng ngành thuốc - sự thiếu chính xác và giới hạn của các đo thử HIV/AIDS ở các vùng xa xôi sẽ không còn là một vấn đề.

(ICTPress) - Nanobiosym, một công ty công nghệ nano ở Boston, Massachuset, Mỹ đã làm ra một thiết bị di động có thể thử HIV/AIDS một cách chính xác ở một số vùng xa xôi nhất trên trái đất, và cho kết quả sau 1 giờ.

Ảnh: Wikimedia Commons

Được gọi là Gene-Radar, sản phẩm công nghệ có kích thước như chiếc iPad này hoạt động bằng cách lấy một giọt máu, nước bọt và một đơn vị nước tiểu và đặt vào một chip nano và sau đó được đặt vào trong thiết bị.

Công nghệ này có tiềm năng cách mạng ngành thuốc - sự thiếu chính xác và giới hạn của các đo thử  HIV/AIDS ở các vùng xa xôi sẽ không còn là một vấn đề, và Gene-Radar có thể giúp giảm chi phí đo thử trên toàn thế giới. Thiết bị này có thể theo dõi các biến đổi bệnh ở thời gian thực và giúp thu thập, xây dựng cá thể hóa thuốc và thay đổi bản chất của mối quan hệ cá nhân với người chăm sóc bệnh nhân.

TS. Anita Goel, Chủ tịch và CEO của Nanobiosym, cho Mashable biết có nhiều loại thiết bị đo thử HIV/AIDS. Phổ biến nhất ở Rwanda, nơi được biết đến là “nhanh và bẩn” nơi bà tiến hành đo thử bằng Gene-Radar. Các đo thử “chuẩn vàng” mà được cho là có thể, thường mất 6 tháng để có kết quả. Ở nước này chỉ có một nơi mà các bác sỹ có thể tiến hành một kiểm tra, và khoảng 200.000 người cần đến. Thậm chí ở Mỹ, một đo thử “chuẩn vàng” cũng phải mất 2 tuần mới có kết quả và tốn tới 200 USD.

Thiết bị mới này có thể rẻ hơn từ 50 đến 10 lần và có thể đo thử nhiều người nếu họ nhiễm HIV/AIDS, Goel cho biết.

Các công ty khác như InSilixa và Silicon Bio Devices Team, đã phát triển các thiết bị chẩn đoán, nhưng họ đã không phải hồi các yêu cầu phỏng vấn.

Các kết quả đo thử nhanh chóng cũng có thể được sử dụng để theo dõi và lưu giữ các bệnh. Gene-Radar là thiết bị cho phép kiểm tra HIV/AIDS là một ứng dụng. Nanobiosym đã phát triển một ứng dụng khác để đo thử E. coli, và đang nghiên cứu nhiều bệnh khác mà có thể phát hiện như bệnh sốt rét hay bệnh lao.

“Thiết bị của chúng ta có thể được sử dụng để nhận biết ai có bệnh, nhưng tải các dữ liệu lên một đám mây, do đó có thể giám sát sự bùng phát bệnh ở một nơi", TS. Goel cho biết.

Tính di động của thiết bị cũng có những ý nghĩa về việc cá thể hóa thuộc, để có thể chuyển đổi chăm sóc bệnh nhân hiện đại.

Tương lai của thuốc sẽ không phụ thuộc một phù hợp cho mọi chuẩn chăm sóc, nhưng những việc chữa trị có thể tính đến các đánh dấu sinh học của một cá nhân. “Nếu bạn có đặc điểm nhất định, bán có thể đề kháng hoặc dễ tiếp cận với các chữa trị nhất định”.

Gene-Radar có thể theo dõi các bệnh với việc lưu dấu từ khi mới bắt đầu do đó việc chăm sóc có thể nhanh chóng. Nó cũng tác động theo thành phần, như việc bệnh nhân phản ứng với gluten, có thể tác động tới loại thuốc được sử dụng.

“Chúng tôi đã gia tăng sức mạnh cho bạn để chủ động với sức khỏe của bạn, và làm hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe toàn diện, bác sỹ và y tá, toàn bộ hệ sinh thái, hỗ trợ và cộng tác nhiều hơn”, TS. Goel cho biết.

Nanobiosym đang nỗ lực làm cho việc chăm sóc y tế theo cách Internet mang đến thông tin cho hàng tỷ người.

“Có 4 tỷ người trên trái đất không được tiếp cận với y tế cơ bản. Đó là sự chuyển đổi mà chúng tôi đang đề cập. Một trong những thách thức mà chúng tôi có là chúng ta đang nói về việc phá vỡ cách chữa bệnh truyền thống, tập trung, tốn nhiều tỷ USD”, TS. Goel cho biết thêm.

Di chuyển việc chăm sóc khỏi bệnh viện và phòng khám là một khái niệm cơ bản, đó là lý do tại sao Nanobiosym tìm kiếm các đối tác họ tin là hiểu việc cần thiết có các sản phẩm chữa trị di động và cá thể hóa. Mặc dù Goel không cho biết đối tác, bà cho biết có 10 đối tác trên toàn thế giới ở nhiều lĩnh vực mà không có công nghệ này sẽ không tiếp cận được với y tế hiện đại, trong đó có các vùng ở Rwanda.

Nanobiosym chỉ mới bắt đầu của sự phát triển này nhưng có một số dự định nữa. TS. Goel cho biết họ đang nghiên cứu một thiết bị chẩn đoán thế hệ kế tiếp mà chỉ bằng kích thước smartphone và họ đã phát triển thử nghiệm một mẫu có thể đeo/mang vào người. Công ty này thậm chí có các kế hoạch cho model thứ 4 mà có thể đưa vào trong bụng.

QM

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Bộ vi xử lý Qualcomm Zeroth: Công nghệ điện toán được truyền cảm hứng bởi bộ não con người

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Một trụ cột quan trọng khác về chức năng của bộ vi xử lý Zeroth là đạt được hiệu quả truyền thông bằng các giác quan và bộ não của chúng ta.

(ICTPress) - Các công nghệ của Qualcomm được thiết kế hoàn toàn mới nhằm đạt được mục tiêu về tốc độ và hiệu quả sử dụng nguồn. Nhờ đó, các thiết bị được trang bị sản phẩm của Qualcomm có thể chạy mượt hơn và tối đa hóa những trải nghiệm có khả năng kéo dài tuổi thọ pin.

Khi điện toán di động ngày càng trở nên phổ biến hơn, Qualcomm cũng đặt kỳ vọng cao hơn vào những thiết bị được con người sử dụng và tương tác trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta muốn những thiết bị này phải trở nên thông minh hơn, biết dự đoán những nhu cầu của chúng ta và cùng chia sẻ cảm nhận về thế giới để chúng ta có thể tương tác với chúng một cách tự nhiên hơn. Độ phức tạp về mặt điện toán để đạt được những mục tiêu này thông qua sử dụng các kiến trúc điện toán truyền thống là rất lớn, đặc biệt là trong những môi trường có những hạn chế về công suất nguồn và diện tích so với trong môi trường điện toán đám mây và khi sử dụng siêu máy tính.

Trong những năm qua, bộ phận Nghiên cứu và Phát triển (R&D) của Qualcomm đã tập trung phát triển một kiến trúc máy tính mới với khả năng phá vỡ những khuôn mẫu truyền thống. Chúng tôi đặt mục tiêu tạo ra một bộ xử lý máy tính mới có thể bắt chước bộ não và hệ thần kinh của con người để các thiết bị có được khả năng nhận thức dựa trên nền tảng điện toán được truyền cảm hứng bởi bộ não, và đó chính là bộ xử lý Qualcomm Zeroth.

Ba mục tiêu chính trong quá trình phát triển bộ vi xử lý Qualcomm Zeroth:

1. Năng lực học hỏi được truyền cảm hứng bởi con người

Các sản phẩm Qualcomm Zeroth được phát triển với ý định không chỉ có thể bắt chước năng lực cảm nhận của con người mà còn có thể học hỏi giống như những gì mà bộ não sinh học có thể thực hiện. Thay vì những hành vi và kết quả đã được lập trình sẵn dựa trên một khối lượng lớn mã máy tính, Qualcomm đã phát triển một bộ công cụ phần mềm với khả năng cho phép các thiết bị học hỏi trong quá trình hoạt động và tiếp nhận những phản hồi từ môi trường xung quanh.

Trong đoạn video dưới đây, một con robot được trang bị bộ vi xử lý Qualcomm Zeroth và được đặt trong một môi trường có những chiếc hộp với nhiều màu sắc khác nhau. Sau đó dạy nó chỉ tiếp cận những chiếc hộp màu trắng. Qualcomm thực hiện điều đó thông qua khả năng học tập dựa trên phản ứng với chất đô-pa-min, còn được gọi là củng cố tích cực, chứ không phải là những dòng mã lập trình.

2. Cho phép các thiết bị nhìn và cảm nhận thế giới theo cách của con người

Một trụ cột quan trọng khác về chức năng của bộ vi xử lý Zeroth là đạt được hiệu quả truyền thông bằng các giác quan và bộ não của chúng ta. Các nhà thần kinh học đã tạo ra các mô hình toán học để mô tả chính xác hành vi thần kinh sinh học khi chúng gửi, nhận và xử lý thông tin. Các tế bào thần kinh chỉ gửi những xung điện được định thời gian chính xác hay còn được gọi là các "xung" (“spikes”) khi đạt đến một mức ngưỡng điện áp nhất định trong màng tế bào sinh học. Những mạng thần kinh xung điện này (spiking neural networks - SNN) thực hiện việc mã hóa và phát dữ liệu một cách rất hiệu quả cả về phương diện cách thức được các giác quan sử dụng để thu thập thông tin từ môi trường cũng như là cách mà bộ não của chúng ta xử lý và liên kết tất cả các thông tin đó lại với nhau.

3. Tạo ra và định nghĩa một Bộ Xử lý thần kinh

Mục đích cuối cùng của Qualcomm Zeroth là tạo ra, định nghĩa và tiêu chuẩn hóa kiến trúc xử lý mới này và Qualcomm gọi nó là Bộ xử lý thần kinh (Neural Processing Unit - NPU).

NPU được xây dựng trong hình dung về một tương lai trong đó NPU được trang bị trong nhiều thiết bị khác nhau, nhưng cũng có thể tồn tại cùng với nhau trong các hệ thống trên một con chip (system-on-chips - SoC). Nhờ đó, bạn có thể phát triển các chương trình thông qua sử dụng các ngôn ngữ lập trình truyền thống, hoặc truy cập vào NPU để đào tạo thiết bị có thể thực hiện những tương tác và hành vi giống như con người.   

Minh Anh

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

iOS 7 được thiết kế nhờ sử dụng Microsoft Word?

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Kết quả của việc này là một phiên bản iOS 7 hoàn toàn thuyết phục - một kết luận gây shock.

(ICTPress) - Apple đã được khen ngợi về việc phát minh lại hệ điều hành mới hoàn toàn với việc tung ra iOS 7 hồi tháng 9.

Việc làm mới OS đã mang tới một ngôn ngữ hình ảnh mới, trong đó có một hiệu ứng nền thị sai, và các màu sắc tươi sáng hơn, liên tục thay đổi cho màn hình Home.

Và trong khi những người sử dụng iPhone có thể hình dung Phó Tổng giám đốc phụ trách thiết kế của Apple Jony Ive đã xây dựng hệ điều hành mới trên công nghệ hiện đại của Apple, người làm ra YouTube này là Vaclav Krejci chứng minh hình ảnh và giao diện của iOS 7 có thể được sáng tạo trên Microsoft Word.

Krejci đã sử dụng các biểu tượng Word thông dụng, các màu sắc, các thành phần và các font chữ để tạo ra hàng loạt các biểu tượng ứng dụng trên màn hình Home. Kết quả của việc này là một phiên bản iOS 7 hoàn toàn thuyết phục - một kết luận gây shock, khi Apple và Microsoft là đối thủ không đội trời chung trong giới công nghệ.

Trong khi không phải Ive và nhóm thiết kế của mình sử dụng Word (hay bất cứ sản phẩm nào của Microsoft) để sáng tạo iOS 7, việc thao tác Word khéo léo của Krejci là điều gì đó đáng khâm phục. Nhưng chúng ta không cần thử việc này ở nhà - Krejci, một người sử dụng Word thành thạo, đã viết một cuốn sách điện tử với tiêu đề "7 Best Text Effects in Microsoft Word" (7 hiệu ứng text trong Microsoft Word).

Nhà thiết kế Apple có thể thấy thú vị, nhưng iOS 8 sẽ là một bước tiến hơn thế nữa, hay Krejci có thể sẽ lại sáng tạo một phiên bản mới bằng cách sử dụng Microsoft Paint.

QM

Nguồn: Mashable

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Huawei công bố Sách Trắng thứ hai về “Viễn cảnh anh ninh mạng”

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Sách Trắng này thảo luận về cách thức đưa an ninh mạng trở thành một tế bào DNA của công ty và kêu gọi xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn bảo mật mạng quốc tế chung để triển khai trên toàn cầu.

(ICTPress) - Huawei hôm nay 18/10 chính thức công bố Sách trắng về Bảo mật Không gian Mạng (Cyber Security White Paper) tại Hội nghị Seoul về Không Gian Mạng 2013 đang diễn ra tại Hàn Quốc trong hai ngày 17 - 18/10/2013.

Cuốn sách được xây dựng để đưa ra những thảo luận tiếp tục về cách thức ngành công nghiệp ICT toàn cầu có thể giải quyết những thách thức về an ninh mạng. Cụ thể, Sách Trắng này thảo luận về cách thức đưa an ninh mạng trở thành một tế bào DNA của công ty và kêu gọi xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn bảo mật mạng quốc tế chung để triển khai trên toàn cầu. Đây là cuốn Sách trắng thứ hai của Huawei về bảo mật không gian mạng.

Trong cuốn Sách trắng mới nhất có tiêu đề “Viễn cảnh An ninh Mạng” này, Huawei đã cung cấp thêm nhiều nội dung chi tiết về phương pháp bảo mật mạng tổng thể, trong đó bao gồm quan điểm thực tiễn hơn về cách tiếp cận mà Huawei sử dụng để thiết kế, xây dựng và phát triển công nghệ liên quan đến các vấn đề an ninh mạng, bao gồm chiến lược tổng thể và mô hình quản trị, các tiêu chuẩn và quy trình hoạt động hàng ngày của tập đoàn, hệ thống quản lý nhân viên, nghiên cứu và phát triển (R&D), xác thực bảo mật, quản lý nhà cung cấp bên thứ ba, hệ thống sản xuất, phân phối và truy xuất nguồn gốc.

Năm 2012, Huawei đã xuất bản cuốn Sách trắng (White Paper) Bảo mật không gian mạng: Công nghệ và An ninh thế kỷ 21 - một cuộc hôn phối khó khăn. Đây là cuốn sách trắng đầu tiên về chủ đề này, mô tả những thách thức liên quan đến toàn cầu hóa, sự phụ thuộc lẫn nhau và số hóa trong cuộc sống. Ngoài ra, tài liệu này cũng đưa ra cái nhìn tổng quan về hướng tiếp cận của Huawei đối với hệ thống an ninh mạng và cũng nhấn mạnh sự cần thiết hợp tác nhằm giảm thiểu rủi ro từ các cuộc tấn công an ninh mạng.

Viễn cảnh an ninh mạng, cuốn Sách trắng thứ hai về bảo mật không gian mạng của Huawei, đưa ra một cái nhìn sâu sắc hơn và mang tính thực tiễn hơn về phương pháp Huawei khiến an ninh thông tin trở thành một phần DNA của mình và nhằm mục đích nâng cao hiểu biết về các chính sách, thủ tục và phương thức chuyển đổi mà các nhà cung cấp đang xem xét trong mối quan hệ với an ninh mạng.

Vấn đề với các tiêu chuẩn là chúng không chuẩn

Khi ngành công nghiệp ICT đua nở về các tiêu chuẩn và nguyên tắc kỹ thuật toàn cầu, thì chính ngành này sẽ phải cùng hợp tác với nhau rất nhiều để đảm bảo lợi ích của xã hội số thông qua các hướng tiếp cận an ninh thông tin chung và tiêu chuẩn hóa để bảo mật.

Một trong số những thách thức lớn nhất mà các nhà cung cấp và người mua các sản phẩm công nghệ phải đối mặt đó là tình trạng dư thừa các tiêu chuẩn và những thực tiễn điển hình nhất liên quan đến an ninh - đây là một thách thức chung và là của cả ngành công nghiệp này.

Định hướng

Các chính phủ, ngành công nghiệp và người sử dụng trên toàn thế giới cần cùng nhau hiểu rõ về cách thức phối hợp với nhau để xác định và đồng thuận về các quy chuẩn, quy phạm mới và riêng biệt về hành vi, tiêu chuẩn và điều luật; và cách chúng ta đảm bảo được quyền riêng tư cũng như an ninh của các hệ thống mạng toàn cầu. Chỉ bằng cách hợp tác toàn cầu, thì các nhà cung cấp, khách hàng và các nhà hoạch định chính sách, pháp luật mới không tạo ra sự khác biệt lớn trong việc giải quyết các thách thức an ninh mạng toàn cầu.

 Các bước quan trọng tiếp theo trong ngành công nghiệp bao gồm:

- Chia sẻ kiến thức và hiểu biết về cách thức nào có hiệu quả và không hiệu quả để giảm thiểu rủi ro cho mọi người khi sử dụng công nghệ vào những mục đích chưa định trước.

- Phát triển khung kết cấu hệ thống an ninh mạng đồng bộ trên toàn cầu để tránh xảy ra các tranh chấp pháp lý hay xung đột cũng như khuyến khích việc đơn giản hóa các yêu cầu về chuỗi cung ứng toàn cầu.

- Tạo ra một chương trình đánh giá hợp chuẩn toàn cầu cho các sản phẩm ICT, điều này sẽ góp phần đáng kể làm tăng sức mua của khách hàng đối với các sản phẩm ICT, giúp hình thành các quyết định đúng đắn hơn cũng như khuyến khích nhà sản xuất và nhà cung cấp tạo ra các sản phẩm ít lỗ hổng bảo mật hơn và có tính đảm bảo cao hơn.

Để đạt được các mục tiêu trên, ngành công nghiệp cần xem xét:

Thách thức về quyền riêng tư trong thế giới số hóa: Bản chất phân phối và xử lý dữ liệu toàn cầu yêu cầu các khung pháp lý vững chắc và tương thích, và các điều luật về công nghệ được thống nhất trên toàn thế giới để hỗ trợ bảo vệ dữ liệu cá nhân và doanh nghiệp.

Thông qua thực tiễn đánh giá rủi ro: Việc tập trung chiến lược vào hướng tiếp cận quản lý rủi ro cũng như nhận biết thực tế rằng mạng lưới toàn cầu phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu đóng vai trò cần thiết tăng cường bảo vệ hệ thống an ninh mạng.

Khách hàng là thượng đế: Người mua công nghệ - là các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng cần sử dụng quyền mua kinh tế để đặt ra thêm các yêu đối với các nhà cung cấp công nghệ và dịch vụ của họ trong việc bảo mật thông tin.

Ông Ken Hu, Phó Chủ tịch tập đoàn kiêm Chủ tịch Ủy ban An ninh Mạng Toàn cầu, Huawei cho biết: “Chúng tôi có thể khẳng định rằng chúng tôi chưa bao giờ nhận được bất cứ chỉ đạo hoặc yêu cầu nào từ bất cứ Chính phủ hoặc các cơ quan nhà nước nào về việc thay đổi vị trí, chính sách, thủ tục, phần cứng, phần mềm hay hoạt động thực tiễn của nhân viên hoặc bất cứ vấn đề nào khác của chúng tôi, ngoài những đề nghị chúng tôi cần nâng cao khả năng đảm bảo an ninh mạng tổng thể. Chúng tôi có thể khẳng định rằng chúng tôi chưa bao giờ bị yêu cầu phải cung cấp quyền truy cập vào công nghệ của mình, hoặc cung cấp bất cứ dữ liệu hoặc thông tin nào về bất kỳ công dân hoặc tổ chức nào cho bất cứ Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước nào.”

 Hướng tiếp cận an ninh mạng đầu cuối của Huawei

Câu niệm chú của Huawei với bảo mật không gian mạng là: “Không giả định, Không tin ai và Kiểm tra mọi thứ”

Trong cuốn Sách Trắng này, Huawei cho thấy bản chất cách tiếp cận của mình trong 12 lĩnh vực chính: (1) chiến lược, quản trị và kiểm soát, (2) các quy trình và tiêu chuẩn, (3) các quy định và luật lệ, (4) vấn đề con người, (5) nghiên cứu và phát triển, (6) thẩm tra, (7) quản lý cung ứng từ bên thứ ba, (8) sản xuất, (9) cung cấp các dịch vụ một cách an toàn, (10) giải quyết sự cố, sai sót và vá lỗ hổng bảo mật, (11) truy xuất nguồn gốc, và (12) kiểm toán.

Các hoạt động tiếp theo của Huawei

Huawei có kế hoạch công bố một Danh sách 100 điều các khách hàng phản ánh với Huawei liên quan tới an ninh mạng, với mục đích giúp các tổ chức hiểu rõ hơn các kiểu câu hỏi nên đưa ra và các yêu cầu an ninh mạng nên cân nhắc đưa ra cho các nhà cung cấp xem liệu họ có thể đáp ứng được không.

Viễn cảnh Bảo mật Không gian Mạng (Cyber Security Perspectives) được đồng sáng tạo bởi các giám đốc điều hành của Huawei từ khắp nơi trên thế giới và được chỉnh sửa bởi John Suffolk, Giám đốc An ninh mạng Toàn cầu (GCSO) của Huawei.

Để biết thêm thông tin chi tiết về Sách Trắng, bạn đọc có thể xem tại: http://pr.huawei.com/en/connecting-the-dots/cyber-security/index.htm

XT

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Giám đốc CNTT trong CQNN ở Việt Nam

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Để khẳng định vai trò của Giám đốc CNTT nhằm thúc đẩy công tác tổ chức triển khai ứng dụng CNTT được mạnh hơn, hiệu quả hơn, rất cần Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng, ban hành tiêu chuẩn...

Trong những năm qua, công tác ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong cơ quan nhà nước (CQNN) đã đạt được nhiều kết quả thiết thực, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả xử lý công việc, quản lý điều hành trong hoạt động của CQNN, phục vụ người dân và doanh nghiệp (DN). Đóng góp vào thành công bước đầu trên có phần quan trọng của các Giám đốc CNTT (cấp trưởng đơn vị chuyên trách CNTT tại cấp Bộ, Ngành, Địa phương).

Các Giám đốc CNTT đã trực tiếp tham mưu, giúp lãnh đạo cơ quan xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch ứng dụng CNTT; tổ chức triển khai kế hoạch; chỉ đạo xây dựng các quy định, hướng dẫn quản lý kỹ thuật, nghiệp vụ,... Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu mới trong phát triển Chính phủ điện tử (CPĐT) thì yêu cầu về năng lực, trách nhiệm, quyền hạn của Giám đốc CNTT của CQNN  phải ngày càng được nâng cao và rõ ràng hơn.

Bài viết trình bày vai trò, chức năng, nhiệm vụ, năng lực của Giám đốc CNTT trong CQNN, đồng thời đề cập những hạn chế còn tồn tại đối với chức danh Giám đốc CNTT trong CQNN ở Việt Nam.

Mở đầu

Hiện nay, ứng dụng CNTT để thực hiện đổi mới, nâng cao hiệu quả xử lý công việc, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, DN là xu hướng tất yếu của các CQNN từ Trung ương (TW) tới địa phương.

Trong giai đoạn vừa qua, ứng dụng CNTT trong CQNN để nâng cao hiệu quả quản lý điều hành và phục vụ người dân và DN đã đạt được một số thành tựu quan trọng như: đến hết năm 2012, trung bình 89,3% cán bộ công chức ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, 68,2% cán bộ công chức tại CQNN ở các tỉnh thành, phố trực thuộc TW thường xuyên sử dụng thư điện tử trong công việc; 83,5% các đơn vị thuộc, trực thuộc của các Bộ, cơ quan quan ngang Bộ, 91,0% các Sở, quận, huyện đã triển khai và sử dụng hệ thống quản lý văn bản điều hành; 100% các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tỉnh, thành phố trực thuộc TW đã có trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử (Website/Portal) và trên đó cơ bản đã cung cấp đầy đủ các thông tin cơ bản theo quy định, 100% các thủ tục hành chính (dịch vụ công) đã được đăng tải trên Website/Portal, trong đó trên 1.600 dịch vụ công đã được triển khai trực tuyến ở mức độ 3 để phục vụ người dân và DN [4]. Kết quả triển khai ứng dụng CNTT trong CQNN của Việt Nam đã được Liên hợp quốc ghi nhận và đánh giá xếp thứ 83 trên 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trong năm 2012, tăng 7 bậc so với năm 2010 [9].

Mặc dù đã đạt được các thành tựu đáng kể, nhưng công tác triển khai ứng dụng CNTT trong CQNN vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn, cụ thể như: phần lớn các hệ thống ứng dụng CNTT được triển khai độc lập, chưa có sự kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các Bộ, ngành và địa phương; vẫn còn nhiều sự triển khai trùng lặp, không đồng bộ các hệ thống ứng dụng CNTT từ TW tới địa phương và ngay trong các Bộ, ngành và địa phương;...

Một lý do quan trọng của các hạn chế trên là các CQNN chưa tạo được mối liên kết hài hòa và sự phối hợp, đồng thuận giữa các nguồn lực trong triển khai ứng dụng CNTT. Để giải quyết vấn đề này, ngay từ năm 2000, tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Ban Chấp hành Trung ương đã yêu cầu “Trước mắt, mỗi cơ quan Đảng, Nhà nước cấp TW và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW cử cán bộ lãnh đạo trực tiếp phụ trách về CNTT” [1]. Đây là tiền đề khẳng định vai trò và sự cần thiết của người Giám đốc CNTT trong CQNN.

Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Giám đốc CNTT trong CQNN

Từ cuối những năm 1990, trên thế giới, khi phát triển CPĐT là vấn đề được quan tâm hàng đầu cũng là lúc xuất hiện nhiều vấn đề khó khăn cho các nhà quản lý CNTT. Trong khu vực công, người phụ trách quản lý CNTT chưa đáp ứng được những nhu cầu mới của Chính phủ như giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, công sức cho người dân, phục vụ cho dân tốt hơn để quản lý nhà nước hiệu quả hơn. Trước nhu cầu đó, khái niệm Lãnh đạo thông tin (Chief Information Officer - CIO) đã xuất hiện.

Về tổng thể, Lãnh đạo thông tin phải là thành viên của ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, có nhiệm vụ quản lý dự án và các khoản đầu tư về CNTT, chịu trách nhiệm cho sự phát triển của các hệ thống CNTT mới và chính sách phát triển, quy hoạch tổng thể, chiến lược của chương trình CPĐT ở mỗi nước. Chính vì vậy, Lãnh đạo thông tin ở mỗi nước lại có vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và hình thái tổ chức khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của Lãnh đạo thông tin đã có sự chuyển dịch từ vai trò chiến thuật sang vai trò chiến lược. Một số ví dụ điển hình như:

Tại Mỹ, Chức danh Lãnh đạo thông tin xuất hiện đầu tiên ở Mỹ và được pháp điển hóa trong Luật Cải cách và quản lý CNTT của Mỹ (Clinger-Cohen Act) vào năm 1996. Luật Clinger-Cohen đã quy định các Bộ và các cơ quan hành pháp phải bổ nhiệm các Lãnh đạo thông tin [6]. Năm 2002, Chính phủ Liên bang Mỹ tiếp tục ban hành Luật CPĐT, trong đó có đề cập đến việc nâng cao vai trò, trách nhiệm cũng như quyền hạn đối với Lãnh đạo thông tin, đồng thời triển khai việc thành lập chức danh Lãnh đạo thông tin trong bộ máy chính quyền tại các bang nhằm thực hiện chính sách đồng bộ hóa trong CPĐT, đạt hiệu quả tối ưu trong khi thi hành chính sách. Luật này đã nêu rõ: (i) Lãnh đạo thông tin giữ vai trò như một nhà tư vấn hỗ trợ thủ trưởng và các cán bộ cao cấp khác của cơ quan để bảo đảm sự sẵn sàng về CNTT và các tài nguyên thông tin. Xây dựng, duy trì và tạo điều kiện cho việc xây dựng một kiến trúc CNTT cho cơ quan. (ii) Lãnh đạo thông tin có trách nhiệm quản lý tài nguyên thông tin; thúc đẩy việc xây dựng triển khai, vận hành hiệu quả tất cả các quy trình quản lý tài nguyên thông tin chính đối với cơ quan, kể cả việc cải tiến các quy trình nghiệp vụ của cơ quan. (iii) Lãnh đạo thông tin có quyền quản lý ngân sách, giám sát và chỉ đạo việc thực hiện những dự án về CPĐT, các kế hoạch liên bộ ngành và các kế hoạch quan trọng có liên quan [7].

Tại Hàn Quốc, các nhiệm vụ chính của Lãnh đạo thông tin trong CQNN từ TW đến địa phương đã được quy định trong Luật về thúc đẩy tin học hoá năm 1996 là: (i) Điều phối chung các kế hoạch, các dự án tin học hóa và việc đánh giá các kết quả đạt được trong việc thúc đẩy tin học hóa. (ii) Xây dựng các chính sách, các kế hoạch và các mối liên kết chúng với công tác tin học hóa; điều phối các chính sách và kế hoạch này khi triển khai thực hiện. (iii) Điều phối chung trong việc mua sắm, phân phối và sử dụng các tài nguyên thông tin; quản lý một cách có hệ thống các tài nguyên thông tin và trong việc xây dựng các kế hoạch sử dụng chung thông tin. (iv) Thúc đẩy việc tin học hóa trong công tác hành chính [5].

Tại Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có quy định chính thức về chức danh Lãnh đạo thông tin, mặc dù vậy, tại Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN đã quy định cụ thể về hệ thống chuyên trách về CNTT và Giám đốc CNTT trong CQNN. Theo đó, các Cục, Trung tâm phụ trách CNTT là đơn vị chuyên trách về CNTT của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Các Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) là đơn vị chuyên trách về CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Thủ trưởng đơn vị chuyên trách về CNTT trong CQNN đảm nhận chức danh Giám đốc CNTT, chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành hoạt động ứng dụng CNTT. Nghị định cũng đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn chính của Giám đốc CNTT là: (i) Trực tiếp tham mưu, giúp lãnh đạo cơ quan xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch ứng dụng CNTT trong ngành hoặc địa phương; (ii) Tổ chức, điều hành việc triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT được phê duyệt; (iii) Chỉ đạo xây dựng các quy định, hướng dẫn quản lý kỹ thuật, nghiệp vụ trong ứng dụng CNTT phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định; đề xuất và tham gia chỉ đạo xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về CNTT; (iv) Tham gia chỉ đạo công tác phối hợp với các CQNN khác trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án ứng dụng CNTT mang tính liên ngành [2].

Như vậy đến nay, tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Giám đốc CNTT đang được coi như một Lãnh đạo thông tin của cơ quan. Để nâng cao vai trò lãnh đạo thông tin của Giám đốc CNTT và xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Giám đốc CNTT của CQNN trong giai đoạn tới nhằm thực hiện thành công việc ứng dụng CNTT và phát triển CPĐT theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ tại Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010) và tại Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT và truyền thông (Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010), ngày 10/01/2012, Bộ TT&TT đã ban hành Công văn số 55/BTTTT-ƯDCNTT hướng dẫn về chức trách, nhiệm vụ, năng lực của Giám đốc CNTT trong CQNN.

Tại Công văn số 55/BTTTT-ƯDCNTT [3], Bộ TT&TT đã xác định rõ 4 chức trách của Giám đốc CNTT là: (i) Xác định tầm nhìn chiến lược, đổi mới và nâng cao chính sách chiến lược ứng dụng CNTT; (ii) Giữ vai trò đầu mối tổ chức, giám sát việc thực hiện các chính sách chiến lược ứng dụng CNTT; (iii) Đảm bảo áp dụng các giải pháp ứng dụng CNTT vào cơ quan đạt hiệu quả tối ưu và (iv) Phối hợp giữa các đơn vị bên trong, bên ngoài cơ quan, địa phương và các đối tác trong việc tổ chức thực hiện chính sách chiến lược ứng dụng CNTT.

Công văn cũng làm rõ cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc CNTT là: (i) Trực tiếp tham mưu, giúp lãnh đạo cơ quan, địa phương xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch ứng dụng CNTT trong cơ quan, địa phương; (ii) Tổ chức, điều hành, giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch ứng dụng CNTT được phê duyệt; (iii) Chịu trách nhiệm xây dựng, mở rộng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trong cơ quan, trong ngành hoặc địa phương; (iv) Chỉ đạo xây dựng các quy định, hướng dẫn quản lý kỹ thuật, nghiệp vụ trong ứng dụng CNTT phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định; chỉ đạo xây dựng các chính sách, quy định về an toàn thông tin; đề xuất và tham gia chỉ đạo xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về CNTT; (v) Là đầu mối, tham gia chỉ đạo, điều phối công tác phối hợp với các cơ quan, địa phương khác trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án ứng dụng CNTT liên quan nhiều cơ quan, địa phương; tham gia thành viên Ban chỉ đạo CNTT của cơ quan, địa phương; (vi) Thường trực tham mưu, giúp lãnh đạo cơ quan, địa phương trong việc phân bổ ngân sách và điều phối nhân lực cho việc triển khai ứng dụng CNTT và các dự án ứng dụng CNTT chiến lược của ngành hoặc địa phương; (vii) Phối hợp với các đơn vị chuyên môn nghiệp vụ để tin học hóa các quy trình nghiệp vụ; tham gia thẩm định việc cải tiến các quy trình nghiệp vụ hoặc các quy trình nghiệp vụ mới trong cơ quan, địa phương để đảm bảo các quy trình nghiệp vụ có thể tin học hóa được và (viii) Thường trực tham gia xét phê duyệt các hoạt động đầu tư ứng dụng CNTT của các đơn vị thuộc cơ quan, địa phương để đảm bảo sự đồng bộ với kế hoạch ứng dụng CNTT tổng thể và phát triển CPĐT của ngành hoặc địa phương.

Yêu cầu năng lực của Giám đốc CNTT trong CQNN

Theo Chương trình đào tạo Lãnh đạo thông tin của của Học viện Lãnh đạo thông tin thuộc Đại học Carnegie Mellon - Mỹ, Lãnh đạo thông tin cần có các kỹ năng và hiểu biết cơ bản về: Xây dựng chính sách, lập kế hoạch chiến lược, quản lý dựa trên kết quả và hiệu quả, cải tiến quy trình, quản lý vốn và đầu tư, kiến trúc và cơ sở hạ tầng, quản trị dự án, đánh giá công nghệ, an toàn thông tin, CPĐT, lãnh đạo, mua sắm [10].

Theo nghiên cứu của Peter LaVoie và Doug Sandova [8], mức độ những kỹ năng quan trọng một Lãnh đạo thông tin cần có như sau:

- Khả năng giao tiếp hiệu quả: 70%

- Tầm nhìn kế hoạch và chiến lược: 59%

- Khả năng lãnh đạo và thúc đẩy nhân viên: 54%

- Hiểu biết quy trình nghiệp vụ: 50%

- Hiểu biết xu thế công nghiệp và chiến lược kinh doanh: 22%

- Hiểu biết lựa chọn công nghệ: 14%

- Kỹ năng đàm phán: 12%

- Am hiểu công nghệ: 12%

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và thực tế của Việt Nam, để đáp ứng yêu cầu triển khai ứng dụng CNTT và phát triển CPĐT, Bộ TT&TT đã xác định các yêu cầu năng lực cần có của Giám đốc CNTT trong CQNN là [3]:

a. Năng lực quản lý: (i) Có năng lực và kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về CNTT; (ii) Có trình độ và kinh nghiệm về quản lý kiến trúc hạ tầng CNTT và truyền thông; (iii) Thành thạo về chỉ đạo xây dựng và quản lý chiến lược ứng dụng CNTT trong việc xây dựng tầm nhìn, tư duy chiến lược, khả năng phân tích chiến lược; (iv) Có kiến thức về quản lý vốn đầu tư đối với các dự án CNTT (xác định vốn đầu tư, rà soát kế hoạch thu chi trong quá trình thực hiện dự án); (v) Có kiến thức về quản trị dự án CNTT; (vi) Có hiểu biết về cơ cấu tổ chức bộ máy và thể chế hoạt động của hệ thống CQNN.

b. Kỹ năng mềm: (i) Năng lực lãnh đạo: Có tầm nhìn, nhiệt huyết, tự tin, tư duy sáng tạo, công bằng, quyết đoán, có nguyên tắc, đạo đức nghề nghiệp; có khả năng tập hợp nhân lực, phân công, điều phối mọi hoạt động thuộc thẩm quyền trong cơ quan; (ii) Kinh nghiệm ngoại giao: Có khả năng tác động, thuyết phục và tạo được sự đồng thuận giữa các đơn vị trong và ngoài cơ quan để thuận lợi hơn trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ; (iii) Kỹ năng giao tiếp: Có khả năng diễn đạt và giao tiếp hiệu quả, biết cách giải quyết xung đột, có kiến thức chung về quốc tế và thành thạo một ngoại ngữ; (iv) Hiểu biết cơ bản về tài chính - kế toán.

c. Kỹ năng hệ thống, kỹ thuật: (i) Có kiến thức, kinh nghiệm về thiết kế, phát triển hạ tầng CNTT, hệ thống và tích hợp hệ thống ứng dụng CNTT, an toàn, an ninh thông tin; (ii) Hiểu biết trong việc cải tiến quy trình nghiệp vụ để chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ phù hợp cho việc ứng dụng CNTT.

Kết luận

Trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT tại các cơ quan, đơn vị nói chung và triển khai ứng dụng CNTT trong CQNN, hướng tới xây dựng CPĐT nói riêng, các nước đều thống nhất: người Lãnh đạo thông tin là một yếu tố quan trọng để mang lại thành công và hiệu quả của việc triển khai ứng dụng CNTT.

Tại Việt Nam, mặc dù chưa có một quy định cụ thể về chức danh Lãnh đạo thông tin, nhưng các Giám đốc CNTT của CQNN từ TW tới địa phương trong giai đoạn qua đã thực hiện tốt vai trò như một nhà Lãnh đạo thông tin và đã góp phần mang lại thành công bước đầu trong việc triển khai ứng dụng CNTT, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác chỉ đạo điều hành, phục người dân và DN. Tuy nhiên, để khẳng định vai trò của Giám đốc CNTT nhằm thúc đẩy công tác tổ chức triển khai ứng dụng CNTT được mạnh hơn, hiệu quả hơn, rất cần Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, chức danh Giám đốc CNTT và hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện thống nhất theo quy định của Nghị định số 64/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Trước mắt, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ , Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần xem xét ban hành quyết định để xác định rõ vai trò, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc CNTT trong toàn cơ quan hoặc địa phương theo hướng dẫn của Bộ TT&TT tại Công văn số 55/BTTTT-ƯDCNTT ngày 10/01/2012.

TS. Lê Quốc Hưng

Cục Ứng dụng CNTT, Bộ TT&TT

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Chấp hành Trung ương, Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, 17/10/2000.

[2]. Chính phủ, Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, 10/4/2007.

[3]. Bộ Thông tin và Truyền thông, Công văn số 55/BTTTT-ƯDCNTT hướng dẫn về chức trách, nhiệm vụ, năng lực của Giám đốc CNTT trong CQNN, 10/01/2012.

[4]. Bộ Thông tin và Truyền thông, Báo cáo ứng dụng CNTT năm 2012, tháng 7/2013.

[5]. CAO HỒNG THẮNG, Báo cáo đề tài cấp Bộ nghiên cứu, đề xuất khung chương trình đào tạo lãnh đạo thông tin (CIO) trong cơ quan nhà nước, Mã số: 23-06-KHKT-RD, tháng 01/2007.

[6]. USA, Information technology management and Reform Act (Clinger-Cohen Act), 1996.

[7]. USA, E-Government Act, 2002.

[8]. PETER LAVOIE and DOUG SANDOVAL, “The Role of the CIO”, UNLV Executive MBA Program, 28/10/2006.

[9]. United Nations, E-Government Survey 2012 (www.unpan.org/e-government), 2012.

[10]. Carnegie Mellon CIO Institute (www.heinz.cmu.edu/cioi).

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

NeXtScal - Giải pháp cho các yêu cầu công việc có tốc độ rất nhanh

Tóm tắt: 

(ICTPress) - NeXtScale là giải pháp lý tưởng dành cho các tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi các tải công việc có tốc độ phát triển rất nhanh như môi trường truyền thông xã hội...

(ICTPress) - Tại hội thảo “Giải pháp dành cho Dữ liệu lớn & Ứng dụng Điện toán chuyên sâu” vừa được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, IBM đã giới thiệu với thị trường Việt Nam hệ thống NeXtScale SystemTM - một nền tảng điện toán linh hoạt mới với khả năng cung cấp số lõi xử lý nhiều gấp 3 lần so với các máy chủ một đơn vị tủ rack hiện tại.

Hệ thống NeXtScale

NeXtScale SystemTM là giải pháp lý tưởng dành cho các tổ chức và doanh nghiệp (DN) Việt Nam đòi hỏi các tải công việc có tốc độ phát triển rất nhanh như môi trường truyền thông xã hội, môi trường phân tích dữ liệu, điện toán kỹ thuật và điện toán đám mây.

Hiện nay, những tải công việc và mô hình điện toán có tốc độ phát triển nhanh đang đặt ra nhu cầu ngày một cao hơn đối với các trung tâm dữ liệu, khiến DN không ngừng tìm kiếm những công nghệ mới có khả năng đáp ứng những nhu cầu đó với mức hiệu suất cao nhất nhưng lại chỉ tiêu thụ điện năng ở mức thấp nhất nhằm nâng cao hiệu quả và hạ thấp chi phí. NeXtScale là sự bổ sung mới cho danh mục giải pháp x86 của IBM, được thiết kế đặc biệt để chạy các ứng dụng với sức mạnh của một siêu máy tính trong bất kỳ trung tâm dữ liệu nào, thông qua một kiến trúc đơn giản, linh hoạt và đặc biệt có tính mở nhằm hỗ trợ các lựa chọn về tính toán, lưu trữ cũng như khả năng tăng tốc xử lý đồ họa.

NeXtScale tích hợp tới 84 hệ thống x86 và 2.016 lõi xử lý trong một tủ rack 19-inch theo tiêu chuẩn của EIA (Electronic Industries Alliance), cho phép DN dễ dàng tích hợp nó vào trong bất kỳ trung tâm dữ liệu nào. Hệ thống này sử dụng các cấu phần theo tiêu chuẩn công nghiệp, bao gồm các thẻ mở rộng (card I/O) và bộ chuyển mạch mạng top-of-rack để đảm bảo độ linh hoạt trong lựa chọn và đơn giản hóa việc triển khai áp dụng. IBM còn cung cấp một bộ giải pháp phần mềm chạy trên hệ thống NeXtScale, bao gồm IBM General Parallel File System (Hệ thống tập tin song song chung của IBM), GPFS Storage Server (Máy chủ Lưu trữ GPFS), xCAT và Điện toán nền tảng (Platform Computing), cung cấp các công cụ lập lịch và quản lý tối ưu hóa mạnh mẽ.

Thiết kế của hệ thống NeXtScale có thể giúp DN quản lý tốt hơn các hoạt động và chi phí đầu tư ban đầu bằng cách cho phép họ tối đa hóa sức mạnh tính toán trong một không gian tối thiểu của các trung tâm dữ liệu. Nhờ có kiểu dáng phù hợp với tủ rack tiêu chuẩn và việc sử dụng rộng rãi các cấu phần theo tiêu chuẩn ngành, các đối tác kinh doanh của IBM giờ đây có thể cung cấp công nghệ điện toán hiệu năng cao của IBM cho rất nhiều đối tượng người dùng khác nhau. 

"NeXtScale được thiết kế để cung cấp thông lượng và hiệu suất cao, và được định vị tốt để xử lý các tải công việc điện toán hiệu năng cao (HPC), điện toán đám mây, điện toán lưới cũng như các tải công việc hosting được quản lý. Ngoài ra, hệ thống mới này còn cung cấp cho khách hàng độ linh hoạt rất cao về phương diện cấu hình và lựa chọn các cấu phần, biến nó trở thành một nền tảng có thể đáp ứng được mọi yêu cầu của doanh nghiệp Việt Nam," ông Nguyễn Quang Tuyến, Giám đốc phụ trách kinh doanh hệ thống System x tại IBM Việt Nam chia sẻ.

 Hệ thống NeXtScale rất phù hợp với:

- Các trung tâm dữ liệu lớn có đòi hỏi hiệu suất, mật độ, quy mô và khả năng mở rộng;

- Các cơ sở hạ tầng điện toán đám mây riêng, công cộng và điện toán đám mây lai;

- Các ứng dụng phân tích dữ liệu như quản lý quan hệ khách hàng, tối ưu hóa hoạt động, quản lý rủi ro/tài chính và các mô hình kinh doanh mới

- Các ứng dụng trong môi trường Internet như game online và phát trực tiếp nội dung video (video streaming);

- Các ứng dụng hình ảnh có độ phân giải cao, bao gồm từ hình ảnh y tế cho đến hình ảnh thăm dò dầu khí;

- Những sử dụng của các "phòng ban" trong đó một giải pháp nhỏ cũng có thể làm tăng tốc độ dự báo kết quả, phân tích kỹ thuật, thiết kế và mô hình hóa.

Máy chủ x3650 M4 HD

Cũng trong hội thảo, IBM còn giới thiệu máy chủ x3650 M4 HD, một phiên bản cải tiến của dòng máy chủ x3650 M4 được trang bị cấu hình lưu trữ RAID 12 Gigabit và tốc độ vòng quay cao hơn tới 60% để đạt được mật độ lưu trữ và hiệu năng mở rộng I/O cao hơn, lần đầu tiên được trang bị cho dòng sản phẩm này, biến nó trở thành giải pháp lý tưởng dành cho các ứng dụng như dữ liệu lớn và các tải công việc kinh doanh quan trọng.

 

NeXtScale được trang bị các bộ vi xử lý x86 nhanh nhất trong ngành và bộ nhớ 1866 MHz siêu nhanh, đồng thời có thể được tích hợp vào các trung tâm dữ liệu hoặc các cơ sở hạ tầng CNTT của các phòng ban, bao gồm cả những môi trường đang sử dụng điện nguồn có dải điện áp từ 100-127V. NeXtScale đã được phê duyệt để hoạt động trong các trung tâm dữ liệu có nhiệt độ cao hơn (lên đến 40oC/104oF), qua đó làm giảm yêu cầu về làm mát và hạ thấp hơn nữa chi phí hoạt động cho người dùng. Khái niệm mở rộng nguyên bản (Native Expansion) của NeXtScale cho phép người dùng bổ sung thêm các chức năng thông thường như lưu trữ, tăng tốc đồ họa hoặc đồng xử lý, ở vào thời điểm giao hàng hoặc trong tương lai. Đi cùng với NeXtScale là các bộ giải pháp khởi đầu mới, giúp người dùng cấu hình nhiều giải pháp HPC và môi trường điện toán đám mây nhỏ của các phòng ban một cách dễ dàng hơn, ví dụ: các công cụ ANSYS, MPI-BLAST và OpenStack (các phần mềm chuyên dụng tính toán và phân tích dữ liệu).

Được thiết kế linh hoạt, DN có thể dễ dàng triển khai NeXtScale dưới dạng một nút tính toán duy nhất, một chassis trống hoặc đã được cấu hình, hoặc một tủ rack dưới dạng một giải pháp ghép nhóm thông minh của IBM. Với công nghệ ghép nhóm thông minh, NeXtScale được chuyển đến địa điểm của DN dưới dạng một giải pháp đã được lắp trong tủ rack, đã được đi cáp và gán nhãn bằng cơ chế đặt tên do người sử dụng quy định, kèm theo hoạt động kiểm thử tích hợp đã được hoàn thành và DN chỉ cần bật nguồn. Điều đó có thể rút ngắn tới 75% thời gian cho hoạt động sản xuất, và đồng thời làm giảm đáng kể lượng bao bì phế thải cho DN.

X.T

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Chuẩn đầu ra Tin học và Ngoại ngữ: Những bài học kinh nghiệm

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Để cạnh tranh bình đẳng với lực lượng lao động đến từ các quốc gia khác vào năm 2015, ngay trên sân nhà, lao động Việt Nam ngoài kiến thức chuyên môn và các kỹ năng nghề nghiệp, còn cần phải có năng lực ngoại ngữ và tin học tốt.

(ICTPress) - Với mục đích mang đến các cơ sở đào tạo thuộc các tỉnh khu vực phía Bắc những thông tin cập nhật nhất về thực trạng và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh cũng như tin học của giáo viên, sinh viên theo tiêu chuẩn quốc tế, IIG Việt Nam phối hợp với Đại học (ĐH) Thái Nguyên vừa tổ chức Hội thảo “Giải pháp chuẩn hóa năng lực tiếng Anh và tin học cho sinh viên tốt nghiệp và công chức”.

ĐH Thái Nguyên, Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ (ETS), Microsoft Việt Nam, các Sở Giáo dục và Đào tạo khu vực Trung Du Miền Núi Phía Bắc, các trường Đại học, Cao đẳng, THPT, THCS tại khu vực Thái Nguyên và các tỉnh lân cận cũng như  đông đảo sinh viên của các trường thành viên trực thuộc ĐH Thái Nguyên đã tham dự Hội thảo này.

Trường ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh (QTKD), ĐH Thái Nguyên là một trường đã có quá trình triển khai chuẩn đầu ra ngoại ngữ TOEIC, chuẩn đầu ra tin học IC3.

Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế và QTKD, ĐH Thái Nguyên, ông Trần Chí Thiện đã chia sẻ kinh nghiệm quý báu trong triển khai TOEIC & IC3 tại ĐH Kinh tế và QTKD mà các trường có thể tham khảo:

Sự cần thiết phải ban hành chuẩn đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp về ngoại ngữ và tin học

Trường ĐH Kinh tế và QTKD (TUEBA) là một trường thành viên thuộc ĐH Thái Nguyên hiện đang đào tạo 17 chuyên ngành ở bậc đại học, 3 chuyên ngành ở bậc thạc sỹ và 1 chuyên ngành ở bậc tiến sỹ. Số lượng sinh viên chính quy của Nhà trường là hơn 11.000 sinh viên trong đó có 9000 sinh viên ĐH, 1200 học viên cao học, 51 nghiên cứu sinh và gần 500 sinh viên liên kết đào tạo quốc tế. Sinh viên tốt nghiệp ĐH Kinh tế và QTKD làm việc tại các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế từ trung ương đến các địa phương trong cả nước.

Năm 2015, Cộng đồng ASEAN bắt đầu hoạt động, sẽ có sự dịch chuyển lao động một cách tự do giữa các nước ASEAN. Để cạnh tranh bình đẳng với lực lượng lao động đến từ các quốc gia khác, ngay trên sân nhà, lao động Việt Nam ngoài kiến thức chuyên môn và các kỹ năng nghề nghiệp, còn cần phải có năng lực ngoại ngữ và tin học tốt. ĐH Kinh tế và QTKD đảm bảo chắc chắn rằng các sinh viên tốt nghiệp phải đạt tới một trình độ cụ thể, có thể đo lường được về Ngoại ngữ và Tin học, để họ đủ sức hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, tất yếu phải có chuẩn đầu ra quốc tế về ngoại ngữ và tin học.

Tại sao lựa chọn chuẩn tiếng Anh TOEIC và chuẩn Tin học IC3?

Ngay từ năm 2008, Nhà trường đã xây dựng và công bố chuẩn đầu ra cho sinh viên trong đó có đề cập đến việc sinh viên tốt nghiệp tốt ngoài kiến thức và kỹ năng chuyên môn, còn phải đạt chuẩn đầu ra về Ngoại ngữ và Tin học.

Tại thời điểm này, chuẩn ngoại ngữ được chọn là chuẩn tiếng Anh TOEIC và chuẩn tin học được chọn là chứng chỉ tin học B do Microsoft IT Academy cấp.

Đối với chuẩn Ngoại ngữ: Bài thi TOEIC được chọn làm bài thi đánh giá kỹ năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên TUEBA vì đây là bài thi tiếng Anh sử dụng cho đối tượng là người lao động tại các cơ quan, doanh nghiệp. Bài thi TOEIC đánh giá trình độ sử dụng tiếng Anh trong môi trường giao tiếp và làm việc quốc tế. Bài thi TOEIC là một chuẩn tiếng Anh được quốc tế công nhận rộng rãi, có thang điểm rộng có thể đánh giá mọi trình độ sử dụng Anh ngữ. Ưu điểm của bài thi TOEIC là đánh giá chính xác, khách quan, tổ chức thi thuận tiện, chi phí hợp lý và tính bảo mật cao.

Đối với chuẩn Tin học: Để đo lường kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm máy tính cơ bản cần có một bài thi đánh giá đảm bảo tính khách quan và chính xác kiến thức và kỹ năng của người học. Tại thời điểm này, chuẩn tin học A, B, C của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành từ những năm 2000 chưa được cập nhật và sửa đổi, không đáp ứng được việc đánh giá chính xác kỹ năng tin học của người học. Nhà trường tại thời điểm đó là thành viên của Microsoft IT Academy nên đã chọn bài thi tin học do Microsoft IT Academy tổ chức và cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, năm 2010,  sau khi tham gia Hội thảo quốc tế về chuẩn kiến thức CNTT và truyền thông lần thứ nhất do IIG Việt Nam tổ chức tại Hà Nội có đại diện Certiport Hoa kỳ tham dự, Nhà trường đã chuyển sang chọn bài thi tin học IC3 làm chuẩn đánh giá kỹ năng sử dụng tin học của sinh viên tốt nghiệp. Bởi vì, bài thi IC3 đánh giá được toàn diện các kiến thức và kỹ năng căn bản về công nghệ thông tin, như hệ điều hành, các phần mềm văn phòng cơ bản như Microsoft Word, Excel, Power Point, khai thác và sử dụng Internet, rất phù hợp với sinh viên các chuyên ngành kinh tế.

Chuẩn đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp của Nhà trường đã  xây dựng và chính thức áp dụng cho sinh viên nhập trường năm 2009 (tốt nghiệp năm 2013). Trong đó, công bố, các sinh viên tốt nghiệp giai đoạn  2013 đến 2015 phải đạt TOEIC 450 điểm, từ giai đoạn 2016 đến 2020 đạt TOEIC 500 điểm, từ giai đoạn 2021 đến 2025 đạt TOEIC 550 điểm và tốt nghiệp sau 2025 đạt TOEIC 500 điểm. Đây là một lựa chọn công bố chuẩn hợp lý vì Nhà trường đã tính đến khả năng cụ thể của sinh viên cũng như yêu cầu của thị trường lao động để chọn một lộ trình hợp lý.

Như vậy,  việc chọn bài thi TOEIC để đánh giá kiến thức kỹ năng sử dụng tiếng Anh và bài thi IC3 để đánh giá kiến thức và kỹ năng CNTT của sinh viên tốt nghiệp của ĐH Kinh tế và QTKD là do tính khách quan, tính được công nhận rộng rãi cũng như dễ triển khai của các bài thi này.

Quá trình áp dụng chuẩn đầu ra Ngoại ngữ TOEIC và Tin học IC3

Sau khi công bố chuẩn đầu ra, Nhà trường đã tiến hành nhiều hoạt động để tổ chức thực hiện thắng lợi chuẩn đầu ra đã công bố trong đó có việc thực hiện giảng dạy và tổ chức thi các bài thi TOEIC và IC3. Từ năm 2008, Nhà trường đã cử 15 giảng viên của bộ môn Ngoại ngữ tham gia tập huấn giảng dạy tiếng Anh theo định hướng TOEIC tại IIG Việt Nam, tham gia tập huấn xây dựng và triển khai bài thi TOEIC trên mạng máy tính tại Trường ĐH Ngoại thương. Các giảng viên được tham gia tập huấn đã trở thành lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng bài giảng, xây dựng các bài kiểm tra học kỳ theo định hướng TOEIC tại trường.

Song song với việc đào tạo giảng viên, năm 2011 trường đã hợp tác toàn diện với IIG Việt Nam để IIG Việt nam giúp đỡ Nhà trường về tập huấn giảng viên, tổ chức thi TOEIC cho sinh viên và kiểm tra tiếng Anh cho học viên cao học của Nhà trường. Tháng 3/2012, IIG Việt Nam đã ký văn bản công nhận Trường ĐH Kinh tế và QTKD là đối tác vàng để triển khai các bài thi tin học và ngoại ngữ  tại Trường cho sinh viên với nhiều ưu đãi về lệ phí thi.

Về Tin học, cuối năm 2011, IIG Việt Nam tổ chức kỳ thi tin học IC3 cho giảng viên các trường ĐH và cao đẳng, Nhà trường đã cử 10 giảng viên của bộ môn tin học tham dự và đến đầu năm 2012, Phòng máy tính của Nhà trường đã được IIG Việt Nam công nhận là đủ điều kiện để trở thành một điểm thi (testsite) để tổ chức kỳ thi tin học quốc tế.

Về chương trình đào tạo, ngay từ khi xây dựng chương trình môn học tin học đại cương, Nhà trường đã định hướng nội dung của môn học này phải bao gồm các kiến thức và kỹ năng cơ bản mà người học phải đạt được về công nghệ thông tin đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Vì vậy, nội dung của môn tin học đại cương của Nhà trường bao gồm các kiến thức về máy tính cơ bản, các phần mềm văn phòng cơ bản và khai thác sử dụng Internet. Nhìn chung, chương trình môn tin học đại cương của Nhà trường đã được thiết kế phù hợp với nội dung của giáo trình IC3. Sau này, nhiều sinh viên của Nhà trường không cần phải học thêm vẫn có thể tham gia thi IC3 đạt kết quả tốt. Tháng 6/2012, Nhà trường đã mua bộ giáo trình IC3 của công ty IIG Việt Nam để làm tài liệu giảng dạy cho các lớp ngắn hạn của Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học của Nhà trường.

Ngoài việc tổ chức đào tạo giảng viên, xây dựng chương trình, mua sắm giáo trình và xây dựng cơ sở vật chất, Nhà trường còn tổ chức nhiều hoạt động để hỗ trợ sinh viên có cơ hội tham gia thi và lấy chứng chỉ TOEIC, chứng chỉ IC3. Trung tâm Hợp tác quốc tế về Đào tạo và Du học, Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học của Nhà trường đã mở nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức ngoại ngữ, tin học cho các sinh viên có nhu cầu theo học. Chỉ tính riêng năm 2012, đã mở được 6 lớp bồi dưỡng IC3 và 14 lớp bồi dưỡng TOEIC cho sinh viên với số lượng hàng trăm sinh viên tham gia.

Về tuyên truyền chuẩn đầu ra, ngoài việc phổ biến bằng văn bản, đăng thông tin trên website, Nhà trường còn tổ chức cho đội ngũ cố vấn học tập phổ biến đến các lớp sinh viên vào các buổi sinh hoạt lớp.

Song song với các hoạt động đó, Nhà trường cũng tổ chức hội thảo về chuẩn đầu ra tin học, ngoại ngữ với IIG Việt Nam tháng 3/2012 để nâng cao nhận thức của sinh viên Nhà trường về sự cần thiết áp dụng chuẩn đầu ra tin học ngoại ngữ bằng các bài thi quốc tế. Các tổ chức trong Nhà trường cũng tiến hành  nhiều hoạt động tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người học. Đoàn TNCS HCM, Hội sinh viên đã có cuộc thi tìm hiểu về chuẩn đầu ra TOEIC và IC3 tháng 10/2012. Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học đã cấp 2 suất học bổng toàn phần theo học lớp TOEIC và 2 suất học bổng toàn phần theo học lớp IC3 tại trung tâm cho sinh viên Nhà trường.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tham gia các bài thi TOEIC, IC3, tháng 10/2012, Nhà trường đã được IIG Việt Nam chỉ định làm đơn vị duy nhất có quền triển khai tổ chức bài thi IC3 tại Thái Nguyên.

Kết quả thực hiện, nguyên nhân

Sau 3 năm tích cực triển khai với nhiều giải pháp đồng bộ cả về đào tạo giảng viên, xây dựng cơ sở vật chất, tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cả người học và cán bộ giảng viên trong Nhà trường, kết quả triển khai việc thực hiện đánh giá chuẩn đầu ra ngoại ngữ và tin học bằng các bài thi quốc tế tại Trường đã đạt được các kết quả sau:

Về Tin học: hiện tại 90% sinh viên tốt nghiệp năm 2013 đã thi đạt chứng chỉ IC3 trong đó 88% thí sinh thi đạt chứng chỉ IC3 ngay từ vòng thi đầu tiên. Đối với các thí sinh chưa thi đạt có thể tham gia thi vòng 2 ngay sau đó. Đối với một số sinh viên muốn tự học và tham gia thi, Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học tổ chức các buổi phụ đạo, hướng dẫn để sinh viên tự tin tham gia thi. Nhiều sinh viên muốn tham gia thi làm nhiều giai đoạn, mỗi lầm chỉ thi một module cũng được tạo điều kiện thuận lợi. Đến nay, sinh viên trong toàn Trường đã hiểu và thực hiện tốt bài thi IC3.

Đối với Ngoại ngữ: Tháng 3/2013, Nhà trường quyết định chưa áp dụng  chuẩn đầu ra ngoại ngữ với các sinh viên hệ cử tuyển, các sinh viên có hộ khẩu thuộc vùng sâu vùng xa, các đối tượng theo nghị quyết 30A của Chính phủ. Tính đến thời điểm này mới chỉ có khoảng 50 sinh viên có kết quả TOEIC đạt 450 điểm trở lên. Trước tình hình đó, tháng 5/2013 Hội đồng Khoa học và Đào tạo Nhà trường đã quyết định hạ chuẩn đầu ra ngoại ngữ thành TOEIC 400 điểm. Kết quả là đợt xét tốt nghiệp đầu tiên tháng 6/2012 có 80 sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp. Trong tháng 5 và tháng 6/2013, nhiều sinh viên đã tích cực học ôn và tham gia thi TOEIC. Đến nay, số sinh viên có kết quả TOEIC đạt 400 trở lên là gần 300 sinh viên. So với tổng số sinh viên cần phải đạt chuẩn đầu ra để tốt nghiệp, con số này đạt 42%.

Nhà trường tin rằng số sinh viên còn lại trong ít tháng nữa sẽ  đạt được TOEIC 400 điểm để có thể nhận bằng tốt nghiệp. Bởi lẽ, một số sinh viên chăm chỉ trên thực tế đạt được điểm khá cao 700 - 800 điểm.

Đối với các sinh viên tốt nghiệp năm 2014, Nhà trường vẫn yêu cầu chuẩn đầu ra về ngoại ngữ vẫn phải đạt 450 điểm TOEIC như đã công bố. Nếu các em tích cực chuẩn bị, các em hoàn toàn có khả năng đạt được mục tiêu này.

Như vậy, đối với chuẩn đầu ra về tin học Nhà trường đã thành công trong việc lựa chọn và tổ chức thực hiện. Tuy nhiên đối với chuẩn đầu ra về ngoại ngữ, việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Tại sao như vậy?

Thứ nhất, để có kiến thức và kỹ năng sử dụng một ngoại ngữ đạt một trình độ nhất định (B1 khung châu Âu, 450 điểm TOEIC…) đòi hỏi phải có một quá trình học tập và rèn luyện bền bỉ, lâu dài. Sinh viên của Nhà trường đa số xuất thân từ các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc. Trước khi vào trường, mặt bằng về trình độ ngoại ngữ của sinh viên còn rất thấp. Kết quả khảo sát kiểm tra trình độ ngoại ngữ đầu vào của sinh viên nhập trường năm 2012 cho thấy 79% sinh viên nhập trường có kết quả kiểm tra TOEIC đạt dưới 250 điểm.

Thứ hai, nhiều sinh viên chủ quan, không tin là Nhà trường sẽ  quyết tâm thực hiện chuẩn đầu ra. Bởi lẽ, đến nay, tại Thái  Nguyên, mới chỉ có ĐH Kinh tế và QTKD là đơn vị duy nhất đã công bố chuẩn ngoại ngữ và tin học bằng các bài thi quốc tế nên các em còn chủ quan và cho rằng Nhà trường chưa chắc đã thực hiện  điều mà chưa ai thực hiện ở khu vực miền núi trung du phía Bắc.

Thứ ba, TOEIC và IC3 là các chứng chỉ còn mới, chưa được thị trường lao động ở các tỉnh trung du và miền núi biết đến một cách rộng rãi. Về ngoại ngữ, thị trường lao động chỉ quen với chứng chỉ ngoại ngữ, A, B, C của Bộ GD&ĐT, chứng chỉ TOEFL, IELTS. Về tin học, thị trường lao động mới chỉ quen với chứng chỉ tin học A, B, C của Bộ GD&ĐT. Một số sinh viên của ĐH Kinh tế và QTKD đi xin việc nộp chửng chỉ TOEIC và IC3 bị nhà tuyển dụng không công nhận.

Bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn triển khai chuẩn đầu ra ngoại ngữ và tin học bằng các bài thi TOEIC và IC3 quốc tế  tại ĐH Kinh tế và QTKD, một số bài học kinh nghiệm ban đầu được rút ra như sau:

Một là, cần làm cho toàn thể cán bộ viên chức và sinh viên nhận thức sâu sắc rằng xây dựng và thực hiện chuẩn đầu ra về ngoại ngữ và tin học là một đòi hỏi tất yếu của thời đại hội nhập quốc tế, nhất là khi Cộng đồng ASEAN bắt đầu hoạt động vào năm 2015, đảm bảo cho người lao động đủ sức hội nhập và cạnh tranh quốc tế, để khỏi bị đánh bại ngay trên sân nhà.

Hai là, việc chọn bài thi quốc tế TOEIC và IC3 để đánh giá chuẩn đầu ra ngoại ngữ và tin học là cần thiết, phù hợp với xu thế và yêu cầu của thị trường lao động do tính phổ biến, khách quan và được quốc tế công nhận rộng rãi. Quy trình triển khai chuẩn đầu ra cần có lộ trình phù hợp với thực trạng, trình độ ngoại ngữ tin học của người học cũng như nhận thức của cán bộ giảng viên và sinh viên trong toàn trường.

Ba là, cần có sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn thể cán bộ giảng viên và nhân viên, cần huy động cả hệ thống chính trị trong Nhà trường để tuyên truyền về tính thiết yếu của việc sử dụng  bài thi TOEIC và IC3 trong đánh giá chuẩn đầu ra ngoại ngữ và tin học để tuyên truyền cho sinh viên và tham gia tổ chức thực hiện.

Bốn là, việc thực hiện chuẩn đầu ra cần phải tiến hành đồng bộ trong tất cả các trường trong toàn ĐH Thái Nguyên để toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên trong toàn ĐH hiểu rõ và đồng tâm thực hiện.

Năm là, cần tuyên truyền rộng rãi để các nhà tuyển dụng khu vực trung du miền núi phía Bắc hiểu về ý nghĩa của chuẩn Tiếng Anh TOEIC và chuẩn Tin học IC3 quốc tế, tin tưởng và chấp nhận cấc chứng chỉ này nhằm giúp sinh viên gặp thuận lợi khi sử dụng các chứng chỉ này để xin việc

Ngoài ra, Nhà trường đã tuyên bố đồng thời áp dụng áp dụng chuẩn ngoại ngữ, tin học đối với cán bộ giảng viên, để chính cán bộ, giảng viên sẽ trở thành những tấm gương sáng về học tập Ngoại ngữ và Tin học để sinh viên noi theo./.

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Hồ sơ Facebook của bạn nói gì về tính cách của bạn?

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Các cập nhật trạng thái của bạn thực sự nói gì về bạn?

(ICTPress) - Các cập nhật trạng thái của bạn thực sự nói gì về bạn?

Trong một nghiên cứu được xuất bản tuần trước tại PLOS ONE, các nhà khoa học tại Đại học Pennsylvania đã nghiên cứu ngôn ngữ được sử dụng trong 75.000 hồ sơ Facebook. Họ tìm thấy những khác biệt ở các độ tuổi, giới tính và những tính cách nhất định. Điều này cho phép nhóm nghiên cứu do nhà khoa học máy tính và CNTT H. Andrew Schwartz đứng đầu, thực hiện những dự báo về hồ sơ của từng người.

Các nhà nghiên cứu tìm thấy họ có thể dự báo giới tính của một người sử dụng chính xác tới 92%. Họ cũng dự báo đội tuổi của một người sử dụng.

Cho tới nay, đây là một nghiên cứu lớn nhất kiểu này. Quy mô của nghiên cứu này cho phép các nhà nghiên cứu sử dụng một “phương pháp từ vựng mở” - cho phép dữ liệu tìm kiếm từ hoặc cụm từ nào được đánh giá quan trọng nhất. Phần lớn các nghiên cứu phụ thuộc vào một phương pháp từ vựng đóng, sử dụng các danh sách các từ liên quan được thiết lập từ trước. Kỹ thuật này buộc các nhà nghiên cứu các đánh dấu đặc điểm mà họ đã biết chứ không phải khám phá những đánh dấu mới.

Sự khác nhau về giới tính trên mạng xã hội

“Việc nhóm các từ tự động vào các chủ đề rõ ràng cho phép một người có thể khám phá ra các tiêu chí mà trước đây đã không thể đoán trước. Phương pháp từ vựng mở xem xét tất cả các từ xuất hiện và do vậy có thể điều chỉnh khá tốt theo ngôn ngữ mới trên mạng xã hội và các thể loại khác”, các tác giả cho biết.

Nhóm nghiên cứu đặc biệt quan tâm tới việc sử dụng phương pháp này để quyết định các tính cách của người sử dụng. Từng người tham gia đã điền một bảng câu hỏi, trả lời 5 tính cách cá nhân lớn: hướng ngoại, tính dễ chịu, lương tâm, nhạy cảm và sự cởi mở. Các nhà nghiên cứu sau đó xem xét các cập nhật hồ sơ đối với ngôn ngữ được sắp xếp cùng với các điểm số kiểm tra của người tham gia nghiên cứu, tập trung vào các từ và các cụm từ thành các đám mây từ ngữ.

Một số ngôn ngữ đồng nhất với các nghiên cứu tâm lý học trước đây. Ví dụ, người hướng ngoại khác hẳn với người hướng ngoại hay sử dụng từ “party” (bữa tiệc) và người nhạy cảm thích sử dụng từ “depressed” (buồn phiền) nhiều hơn.

Nhưng các phát hiện khác cũng khá nhiều điểm mới. Những người nội tâm thích nói về truyền thông Nhật Bản như “anime” và “manga” (phim hoạt hình) và những người ít nhạy cảm hơn đã đề cập các sự kiện xã hội như “vacation” (kỳ nghỉ), “church” (nhà thờ) và “sports” (thể thao) nhiều hơn. Những người ít cởi mở thường dùng từ viết tắt như “2day” hay “ur”.

Các nhà nghiên cứu hy vọng sử dụng những phát hiện này để nghiên cứu kỹ hơn những loại hình vi nào hình thành những kiểu người khác nhau.

“Khi tôi tự hỏi một người hướng ngoại là như thế nào? Thế nào là một cô gái tuổi teen? Người bị bệnh tâm thần phân liệt hay nhạy cảm là người thế nào? Hay sẽ thế nào khi 70 tuổi?”, những đám mây từ ngữ xuất hiện gần với trọng tâm vấn đề hơn là làm tất cả các bản câu hỏi không tồn tại”, đồng tác giả Martin Seligman cho biết trong một công bố.

QM

Theo MIT Technology Review

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT