Syndicate content

Kinh tế chuyên ngành

46% người làm việc văn phòng tại VN sáng tạo hơn nhờ "thế giới làm việc mới"

(ICTPress) - Trong một nghiên cứu mới đây của Microsoft trên 5.000 người lao động văn phòng thuộc 13 quốc gia Châu Á, 46% người lao động Việt Nam chia sẻ rằng, họ luôn được khuyến khích để làm việc hiệu quả hơn, hợp tác hơn và sáng tạo hơn, đồng thời, vẫn đảm bảo các quyền lợi của họ trong hệ thống làm việc liên tục thay đổi. 

Theo nghiên cứu này, cứ 8/10 người làm việc trong các văn phòng Việt Nam dành ít nhất 1 ngày trong 5 ngày làm việc để làm việc bên ngoài văn phòng. 5/10 người làm việc chia sẻ ý tưởng, thông tin với đồng nghiệp sẽ mang lại lợi ích tức thời cho tổ chức của mình.

Một trong những bước đầu tiên tối ưu nhất là triển khai các công nghệ mới, nhưng đòi hỏi phải luôn tuân thủ các chính sách được thay đổi thường xuyên. Các tổ chức cần cân nhắc về chính sách nơi làm việc nhằm trang bị tốt hơn và trao quyền cho nhân viên trong “Thế giới làm việc mới” (NWoW) để luôn có được sự hợp lý với thị trường, với nhân sự mà vẫn đảm bảo sự thành công cho doanh nghiệp trong nền kinh tế mới.

Không phải là sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống mà là tích hợp công việc vào cuộc sống

Một tổ chức luôn quan tâm tới nhân viên, luôn có những chính sách đãi ngộ tới nhân viên đồng thời hỗ trợ những phong cách làm việc khác biệt cho nhân sự, thường là tổ chức giúp nhân sự tích hợp được công việc vào cuộc sống. Nhờ công nghệ giúp triển khai việc di động và kết nối tức thì, khái niệm tích hợp công việc vào cuộc sống hay ngược lại đã trở nên công thức phổ cập của thời đại mới.

Điều thú vị trong nghiên cứu chỉ ra rằng 66% nhân sự muốn ở trong văn phòng để hoàn tất công việc chỉ bởi họ cần các truy cập vào thiết bị và những công cụ này đặt tại văn phòng, 23% nói rằng họ làm như vậy chỉ bởi mong muốn tiếp cận đồng nghiệp và lãnh đạo.

Điểm nhấn ở đây là có khoảng trống về vận hành cần thay đổi để các công ty có được năng suất cao hơn nữa. Từ góc nhìn của lãnh đạo, cần đồng thuận để trao quyền cho nhân viên nhiều hơn, giúp họ có thể làm việc từ xa và nâng cao hiệu suất làm việc trong tổ chức.

Dưới đây là 3 điểm cân nhắc để triển khai chính sách NwoW:

1.  Quản trị theo hiệu quả, không quản trị theo sự hiện diện

Dù “Công việc không phải là điểm đến, mà là việc đang làm”, nhưng tại các quốc gia Châu Á, đặc biệt là trong các phản hồi của nghiên cứu tại Hong Kong, Hàn Quốc, thời gian đối diện với đồng nghiệp và lãnh đạo dường như rất quan trọng và là lí do chính để nhân sự có mặt đúng giờ tại nơi làm việc. Nghiên cứu đã chỉ ra, khái niệm từ xa thậm chí gây nguy hiểm cho đánh giá về năng lực nhân viên, vì quan niệm về việc có mặt thụ động, tức là việc hiện diện tại văn phòng, đồng nghĩa với hiệu suất của một người tại nơi làm việc. “Quản lý về hiệu quả chứ không quản lý sự hiện diện” là khái niệm mà nhà quản lý cần lấy làm trọng tâm trong môi trường làm việc hiện đại ngày nay để mang lại những điều tốt nhất cho nhân viên.

Công việc hiện nay đòi hỏi đáp ứng nhanh theo yêu cầu thị trường kèm dịch chuyển, để quản trị đội ngũ phân tán thành công, thì điều tốt nhất cho các lãnh đạo là quản trị theo các chỉ số hiệu suất chính (KPIs) của nhóm được chỉ định từ trước. Đây là điểm quan trọng để tập trung đánh giá về năng lực và kết quả. Bằng cách này, nhân viên ý thức được kỳ vọng và năng lực của họ luôn được đánh giá đúng để có thể cống hiến chứ không phải là đo bằng sự có mặt tại văn phòng.

Ví dụ tiêu biểu tại Microsoft là nhân viên và khách mời được cung cấp liên kết Skype for Business cho các cuộc họp cả nội bộ hay bên ngoài. Nhờ đó, tất cả các bên có thể cùng tham gia vào các cuộc thảo luận nhanh chóng để đưa ra quyết định và tiết kiệm được thời gian và chi phí dịch chuyển. 

2. Củng cố hợp tác giữa các nhóm.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, 51% phản hồi cảm thấy năng lực hợp tác tức thì cùng các nhóm làm việc sẽ có lợi cho hầu hết các tổ chức. Gợi ý là tạo hoặc tu sửa không gian làm việc sẽ thúc đẩy hợp tác và sáng tạo đồng thời dỡ luôn được sự e dè do cách biệt giữa các nhóm phòng ban. Tại Microsoft, ý tưởng này được triển khai. Các văn phòng trên toàn cầu của Microsoft đều có nhiều các không gian làm việc khác nhau, bao gồm những gian hàng café phong cách, các bàn làm việc đứng hay các cabin điện thoại để tham dự các cuộc họp ảo. Một  khảo sát được tiến hành sau khi sửa văn phòng Singapore vào năm 2012 cho thấy 49% nhân viên cộng tác nhiều hơn với các đồng nghiệp và 77% thấy rõ sự cải thiện trong môi trường làm việc.

Là tập đoàn hàng đầu về bảo hiểm tại châu Á, AIA mới đây đã giới thiệu Office 365 đến hơn 20.000 người sử dụng trên toàn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Bằng cách tận dụng công cụ đám mây, AIA đã vượt qua rào cản về ngôn ngữ cho nhân viên. Nhân viên AIA bây giờ có thể tự do trao đổi ý tưởng và cộng tác trong thời gian thực. Cụ thể, lãnh đạo tại Singapore có thể nói tiếng phổ thông và sử dụng Yammer để kết nối với các đồng nghiệp của ông nói tiếng Malay ở Malaysia hay tiếng Việt tại Việt Nam.

3. Dân chủ hóa tiếp cận công nghệ

Đa số người được hỏi trong nghiên cứu nói rằng, họ cần phải ở văn phòng để truy cập vào thiết bị và công cụ chỉ có sẵn tại nơi làm việc. Và phản hồi từ 53% giữ vị trí quản lý trong các tổ chức cũng thể hiện rằng họ được trang bị tốt hơn để làm việc cùng các đối tác trong và ngoài công ty, so với 40.7% số người được hỏi không nắm vị trí quản lý.

Trong thế giới của điện thoại di động và điện toán đám mây phổ biến hiện nay, triển khai cho nhân viên làm việc linh hoạt và từ xa là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp thành công. Song song đó, còn phải luôn đảm bảo dữ liệu của công ty được bảo vệ an toàn. Office 365 giúp giải quyết bài toán này. Ngoài cung cấp dịch vụ bảo mật cấp độ doanh nghiệp, Office 365 cũng cung cấp cho quản trị viên và người sử dụng quyền điều khiển nhằm hỗ trợ đáp ứng các yêu cầu cần tuân thủ của Doanh nghiệp.

Điều quan trọng là trao quyền cho nhân viên theo phương thức để họ góp phần tăng năng suất cho Doanh nghiệp mà không bị giới hạn trong quản lý năng lực nhân viên. Sẽ còn những yếu tố về niềm tin cần được xây dựng; cho các lãnh đạo trao quyền và tin tưởng nhân viên với mục tiêu công việc xác định và cho nhân viên củng cố niềm tin với lãnh đạo. Sự chuyển hướng tới “Thế giới làm việc mới” cần phải xuất phát từ cân nhắc về quan niệm không gian làm việc và thực hành công nghệ trong nền kinh tế kỹ thuật số để thúc đẩy sự thành công của Doanh nghiệp.

QA

Việt Nam được gì từ dự án tỷ đô của Apple?

Sự có mặt của Apple sẽ có lợi cho môi trường đầu tư Việt Nam. Tuy nhiên, không dễ để biến cơ hội thành lợi ích từ dự án tỷ đô của hãng công nghệ này.

Vì sao Apple chọn Việt Nam?

Apple Inc có thể sẽ theo chân đối thủ lớn nhất của mình là Samsung Electronics để đầu tư vào Hà Nội, biến Việt Nam thực sự trở thành trung tâm lớn của các hãng sản xuất điện thoại và tạo ra sức hút mới với nhiều nhà đầu tư nước ngoài khác tại Việt Nam.

Tập đoàn Apple (Mỹ) đang xúc tiến đầu tư tại Việt Nam cho thấy tiềm năng thu hút vốn ngoại vào lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam hiện rất lớn.

Trong danh mục các dự án nhà đầu tư đang tìm hiểu cơ hội đầu tư/chuẩn bị thủ tục đầu tư của UBND TP Hà Nội có dự án của Công ty Apple Inc. Cụ thể, dự án này xây dựng trung tâm cơ sở dữ liệu phục vụ khu vực châu Á với tổng vốn đăng ký 1 tỉ USD, đang ở giai đoạn giới thiệu địa điểm và hướng dẫn nhà đầu tư hoàn thành thủ tục.

Apple luôn chú trọng Đầu tư vào các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D). Năm ngoái, hãng sản xuất điện thoại Iphone này đã chi tới hơn 8 tỷ USD cho hoạt động R&D trên toàn thế giới. Số tiền này tương đương với 3% tổng doanh thu của Apple trong năm tài chính 2015 kết thúc vào tháng 9/2015. Apple cũng dành một tỷ lệ tương tự cho các hoạt động R&D trong các năm 2013 và 2014.

Toàn bộ 1 tỷ USD vốn đầu tư của Apple vào Việt Nam lần này dự kiến sẽ được dùng để xây dựng một trung tâm nghiên cứu và cơ sở dữ liệu

Hiện tại, Apple đã có các trung tâm R&D tại Anh, Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ và Israel. Tập đoàn này cũng đang xây dựng một trung tâm R&D mới ở Nhật Bản và dự kiến đến tháng 6 tới sẽ mở một trung tâm R&D mới tại Ấn Độ.

Hiện vẫn chưa thể biết được rằng dự án đầu tư của Apple tại Việt Nam đến lúc nào sẽ được triển khai và lĩnh vực nghiên cứu cụ thể mà Apple muốn tập trung ở Việt Nam. Nhưng với quy mô của dự án như vậy, có thể thấy được Apple đang đánh giá rất cao về tiềm năng nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

Cuối năm 2015, Apple đã lập Công ty TNHH Apple (Apple Vietnam LLC), trụ sở tại TP HCM, do ông Gene Daniel Leveff, thành viên cấp cao của tập đoàn, phụ trách. Một lãnh đạo Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP HCM cho biết trong  năm 2014 và 2015, Apple từng tới đây tìm hiểu môi trường đầu tư. Như vậy, ý định đầu tư của tập đoàn này vào Việt Nam đã được nhen nhóm từ lâu.

Theo thông tin trên báo Người lao động, xung quanh dự án của Apple ở Việt Nam có những suy luận khác nhau. Trung tâm cơ sở dữ liệu phục vụ khu vực châu Á của Apple với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD được giới công nghệ cho là “khó hiểu”.

Thông thường, một trung tâm R&D hoặc trung tâm cơ sở dữ liệu quy mô khoảng vài trăm triệu USD đã là khổng lồ. Trung tâm này thường được xây dựng để phục vụ cho hoạt động sản xuất quy mô lớn của doanh nghiệp tại thị trường nội địa, trong khi Apple chưa có nhà máy sản xuất điện thoại, máy tính nào ở Việt Nam. Đối tác sản xuất linh kiện chính cho các sản phẩm của Apple là Foxconn đã đầu tư ở Việt Nam nhưng với quy mô rất nhỏ.

Năm 2015, Compal - một tập đoàn chuyên gia công thiết bị điện tử, điện thoại di động cho các hãng điện tử lớn trên thế giới - công bố sẽ tiếp tục triển khai dự án sản xuất máy tính ở Vĩnh Phúc. Dự án này được cấp phép từ năm 2007 với vốn đầu tư 200 triệu USD nhưng sau đó gần như không triển khai. Khi Compal thông tin về việc sẽ hợp tác với một đối tác Mỹ để tiếp tục dự án sản xuất điện thoại di động, nhiều đồn đoán trong giới công nghệ cho rằng đối tác này là Apple. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng suy đoán này cũng không có cơ sở do nhà máy Compal ở Vĩnh Phúc có quy mô quá nhỏ.

Như vậy, cả 2 suy luận nêu trên dường như vẫn chưa hợp lý.

Việt Nam hưởng lợi gì?

Trên báo Người lao động, ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, cơ quan quản lý Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Apple. Có thể nhà đầu tư đang chần chừ, chưa đặt vấn đề chính thức nhưng Việt Nam cần tận dụng cơ hội này bởi dự án phù hợp với mục tiêu thu hút vốn ngoại trong lĩnh vực công nghệ cao.

Theo GS Nguyễn Mại, trong những năm qua, Việt Nam đã bỏ ra hàng triệu USD thành lập và vận hành các phòng thí nghiệm quốc gia nhưng do cơ chế không tốt nên không hiệu quả. Nay, nhiều tập đoàn nước ngoài đến Việt Nam đầu tư các nhà máy sản xuất và lập các trung tâm R&D là cơ hội rất lớn giúp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam.

Sản phẩm của Apple được người Việt Nam tin dùng

Trao đổi với báo Đất Việt ông Vũ Đức Quyết – Giám đốc sở Công thương Bắc Ninh, nguyên trưởng ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh cho hay, dự án của Apple là đầu tư xây dựng Trung tâm nghiên cứu phát triển, khác hoàn toàn với các dự án xây dựng công xưởng, nhà máy lắp ráp sản phẩm của Samsung.

Ông Quyết lưu ý, mặc dù hãng này thành lập khá nhiều trung tâm R&D trên thế giới, nhưng đầu não quan trọng nhất vẫn nằm ở trung tâm R&D tại California (Mỹ) - nơi hội tụ nhiều tinh hoa công nghệ thế giới với những kỹ năng và kiến thức chuyên sâu.

Giám đốc sở cho biết dù ông chưa hiểu được hết ý đồ của Apple là gì và phân khúc nào sẽ vào Việt Nam, nhưng có thể khẳng định dự án của Apple, nếu có, là rất tốt cho môi trường đầu tư, phát triển của Việt Nam.

Theo ông Quyết, sự có mặt của Apple là nhân tố thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ cao giữa Samsung với doanh nghiệp trong nước nhanh hơn, thiết thực hơn. Trên thực tế, dù Samsung đã vào Việt Nam cả chục năm nay nhưng rất ít người được tiếp cận với chiến lược phát triển của Samsung.

Ông Quyết cũng cho biết thêm, với một dự án công nghệ cao hàng tỷ USD thì không chỉ có các tỉnh mà ngay cả Chính phủ cũng sẽ phải rất quan tâm tới các chính sách thu hút đầu tư. Tuy nhiên, dù lời mời chào có hấp dẫn thế nào cũng không thể vượt ngoài khung chính sách chung của chính phủ./.

PV/VOV.VN

Đầy đủ về Alphabet, công ty mẹ của Google chỉ qua 1 hình ảnh

(ICTPress) - Google bạn đã từng biết không còn tồn tại.

Tháng 8/2015, hãng công nghệ khổng lồ ở California này đã tuyên bố một tái cấu trúc lịch sử. Sản phẩm tìm kiếm của Google trở thành công ty con thuộc sở hữu của công ty mới, Alphabet, cùng với các dự án và các nhóm khác của Google được sắp xếp trở thành các công ty con của Alphabet, mỗi công ty con có CEO riêng.

Sự thay đổi này có hiệu lực vào tháng 10 và cựu CEO Larry Page của Google tiếp tục giữ vị trí CEO tại Alphabet và Sundar Pichai nắm quyền tại Google.

Alphabet mang lại cho Page và ban lãnh đạo cấp cao nhiều tự chủ hơn để theo đuổi các dự án mới mẻ đầy hứng thú và các hoạt động mua lại - mà không phải quan tâm tới việc các dự án này có phù hợp với nhiệm vụ của Google “để tái cấu trúc thông tin của thế giới và làm công ty trở thành công ty toàn cầu và thiết thực hơn”.

Tìm kiếm thông tin về chăm sóc sức khỏe? Nâng cấp các thành phố? Mở rộng cuộc sống về căn bản? là những dự án Alphabet đang hướng tới.

Ngay trong tháng 1 này, đã có 9 công ty thuộc Alphabet - với một dự án Xe ô tô tự hành, được cho là sẽ ra mắt trong năm nay (Google không bác bỏ tin này. . Replicant, bộ phận robot thuộc Alphabet, từng là một bộ phận riêng rẽ, gần đây đã được sáp nhập vào Google X, phòng thí nghiệm trọng điểm.

HY

CNTT: Nhóm nghề khó tuyển dụng thuộc top 5

(ICTPress) - Chương trình khảo sát lương được thực hiện với sự tham gia của 200 doanh nghiệp, 59.927 người lao động.

Kết quả của khảo sát lương 2015 - 2016 của Công ty Tư vấn đầu tư và Quản lý doanh nghiệp (Macconsult) vừa cho biết các thông tin khảo sát thuộc 14 nhóm nghề.

Nội dung khảo sát gồm: Mức lương hàng tháng (lương cứng, mềm/khoán), các phụ cấp hưởng hàng tháng, thưởng năm, phúc lợi hàng năm; Mức độ khó tuyển dụng; Tỷ lệ biến động nhân sự; Dự kiến tăng lương hàng năm.

Theo khảo sát, CNTT luôn đứng trong top 5 nhóm ngành nghề có mức lương, thưởng trung vị cao nhất cả về cấp bậc quản lý/giám sát, Chuyên viên/kỹ sư, Nhân viên/kỹ thuật viên.

Cụ thể về nhóm nghề có mức lương cao nhất, CNTT là nhóm nghề đứng vị trí thứ 3 đối với cấp bậc quản lý/Giám sát (sau nhóm ngành dược phẩm - y tế, chăm sóc sức khỏe, Kiến trúc xây dựng), đối với Chuyên viên/Kỹ sư (sau Tư vấn - hỗ trợ kinh doanh, Kiến trúc - Xây dựng); vị trí thứ hai đối với cấp bậc nhân viên/kỹ thuật viên. Mức thưởng đứng vị trí thứ 3 đối với cấp bậc quản lý/giám sát, thứ 5 đối với chuyên viên/kỹ sư. Cấp bậc nhân viên/kỹ thuật viên, mức thưởng không ở top 5.

Về mức độ khó tuyển dụng theo nhóm nghề với thang điểm từ 1 - 5, nhóm nghề CNTT đứng ở vị trí thứ 3 (sau nhóm nghề Quản lý - Điều hành, Kiến trúc - Xây dựng). Mức độ khó tuyển dụng theo ngành, điện tử, thiết bị điện đứng vị trí số 1 (3,79 điểm), CNTT, Viễn thông đứng vị trí thứ 5 (3,19 điểm), Truyền thông – quảng cáo đứng ở vị trí thứ 13 (2,80 điểm)…

Mức độ khó tuyển dụng theo nhóm nghề
Mức độ khó tuyển dụng theo ngành

Về tỷ lệ nghỉ việc theo nhóm nghề, CNTT đứng ở vị trí thứ 5. Về tỷ lệ tăng lương theo ngành, CNTT - Viễn thông đứng ở vị trí thứ 3 (sau Tài chính - Ngân hàng - Chứng khoán, Cơ khí - Ô tô - Xe máy), Điện tử - Thiết bị điện xếp thứ 10, Truyền thông - quảng cáo xếp thứ 11 trong 14 nhóm nghề.

Chương trình khảo sát lương được thực hiện với sự tham gia của 200 doanh nghiệp, 59.927 người lao động. Doanh nghiệp và người lao động tham gia khảo sát ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc là 74%, TP. HCM và các tỉnh miền Nam là 20%, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung 6%. Tỷ trọng số doanh nghiệp tham gia khảo sát phân theo loại hình doanh nghiệp, trong đó có 85% doanh nghiệp 100% vốn đầu tư trong nước, 10% doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài và 5% doanh nghiệp có vốn góp nước ngoài.

Bà Nguyễn Thị Mai, Phó Giám đốc Công ty Macconsult cho biết Chương trình này có nhiều điểm khác biệt. Chương trình thực hiện khảo sát trực tuyến và cung cấp dữ liệu liên tục, kịp thời và có tính thời sự cấp nhật về mức lương thị trường. Việc khảo sát dự trên kết cấu chức danh tiêu chuẩn (gần 800 chức danh phổ biến trong 14 nhóm nghề, được mô tả về trách nhiệm và yêu cầu công việc theo từng nhóm nghề và cấp độ trình độ, kinh nghiệm phức tạp công việc tương ứng. Theo đó, chức danh tham gia phiếu hỏi phải đảm bảo đáp ứng sự phù hợp và tương đồng từ 80% trở lên.

Trong khi đó, ông Lê Anh Cường, Chủ tịch Macconsult cho hay trên thế giới, các thông tin khảo sát lương và tuyển dụng không còn là điều mới mẻ, việc khảo sát và cập nhật các dữ liệu về tiền lương nói riêng và thị trường lao động nói chung là một thông lệ quản trị tốt, đã được thực hiện bài bản từ lâu. Trong khi đó, với hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam thì còn quá tốn kém và khó tiếp cận.

Việc Việt Nam tham gia toàn diện vào các Hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được đánh giá là sẽ khiến việc tuyển dụng, lưu giữ những lao động có chất lượng và tay nghề trở nên khó khăn và cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây là một thách thức rất lớn, khi mà quy mô hầu hết các doanh nghiệp còn nhỏ, hệ thống quản lý chưa bài bản, thiết hầu hết các thông tin đầu vào phục vụ cho quản lý kinh doanh.

Ông Cường cho hay với chương trình khảo sát tiền lương của Mcconsult, mọi người đều có quyền tiếp cận và sử dụng miễn phí dữ liệu tiền lương tại jobcloud.vn. Các doanh nghiệp tham gia khảo sát sẽ nhận đầy đủ các dữ liệu phân tích và báo cáo hàng năm và hàng quý để có những điều chỉnh và quyết định về mức và ngân sách tiền lương của mình nhằm đảm bảo tính cạnh tranh.

Nguyễn Quyên

Đồng sáng lập Apple chia sẻ tiềm năng "đám mây" cho doanh nhân Việt

(ICTPress) - Nhà đồng sáng lập Apple Steve Wozniak đã đến Việt Nam và chia sẻ tại Hội thảo “SMAC 2015 với chủ đề Kết nối giá trị - Khơi dậy tiềm năng” do Tổng công ty Viễn thông MobiFone tổ chức hôm nay 2/12 tại TP. HCM.

Nhà đồng sáng lập Apple Steve Wozniak chia sẻ tại Hội thảo

Tại Hội thảo, Steve Wozniak đã khẳng định “Điện toán đám mây đang cực kì phát triển, đặc biệt là khi tất cả chúng ta đều đã quen có một thiết bị di động kết nối với dữ liệu dù ta ở bất kì đâu. Điện toán đám mây hỗ trợ mọi công ty dù lớn hay nhỏ theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ, Amazon giúp cho một start-up dễ dàng mở cửa hàng và bán hàng nhanh chóng. Microsoft Office 365 giúp cho công ty hoạt động và quản lý tốt với các ứng dụng văn phòng và quản trị doanh nghiệp”.

Nhà cựu lãnh đạo Apple cũng tiên đoán, dễ sử dụng và tự động hóa sẽ là những xu thế lớn tiếp theo cho sự phát triển của các giải pháp công nghệ dành cho doanh nghiệp.

Được xem là hội thảo lớn nhất về công nghệ và kinh doanh cho cộng đồng doanh nhân Việt Nam trong năm 2015, “SMAC 2015” đã thu hút được sự quan tâm của hàng trăm doanh nghiệp Việt Nam và Quốc tế đến tham dự, trong đó có các công ty tư vấn giải pháp doanh nghiệp và công ty công nghệ hàng đầu thế giới như KPMG, IBM..., và sự tham gia của nhà đồng sáng lập Apple Steve Wozniak. Đây là lần đầu tiên nhà đồng sáng lập, bộ óc kỹ thuật vĩ đại của Apple đến Việt Nam.

Với mong muốn xây dựng một cộng đồng doanh nghiệp năng động và sáng tạo, luôn ứng dụng các xu hướng công nghệ hàng đầu vào quản trị và kinh doanh, Hội thảo là diễn đàn cho 400 lãnh đạo doanh nghiệp gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm và cập nhật xu hướng công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm áp dụng công nghệ SMAC trong quản trị và kinh doanh.

Ứng dụng mạng xã hội kết hợp với các công nghệ phân tích dữ liệu và điện toán đám mây vào kinh doanh là xu thế của nhiều doanh nghiệp trên toàn cầu trong những năm gần đây. SMAC là một hệ sinh thái mà ở đó các doanh nghiệp nên biết tận dụng và triển khai vào kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp xây dựng được một giải pháp kinh doanh mới, hướng tới khách hàng thông qua việc phân tích và nắm bắt được các hành vi tiêu dùng của khách hàng để từ đó có các giải pháp kinh doanh phù hợp và quản trị hiệu quả doanh nghiệp.

Tại hội thảo, ông Lê Nam Trà, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tổng Công ty Viễn thông MobiFone chia sẻ.Với tầm nhìn và phương châm “kết nối giá trị, khơi dậy tiềm năng”, MobiFone luôn mong muốn hỗ trợ để kết nối cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam với những xu hướng công nghệ mới nhất, có thể tạo ra những cuộc cách mạng về quản trị và vận hành kinh doanh cho doanh nghiệp của Việt Nam. Sự kiện SMAC 2015 lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam thể hiện nỗ lực không ngừng của MobiFone trên hành trình hợp tác và phát triển cùng cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam và thế giới.”

Thực tế, nhờ sử dụng “dữ liệu lớn” (Big Data) và “điện toán đám mây” (Cloud) trong vận hành sản xuất kinh doanh, Tổng Công ty Viễn thông MobiFone đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong thời gian qua.

Minh Anh

83% người dùng Việt tin vào website có thương hiệu

(ICTPress) - Đây là một trong những kết quả thu được mới đây từ điều tra về mức độ tin tưởng của người tiêu dùng vào quảng cáo do Nielsen toàn cầu thực hiện vừa công bố.

Bên cạnh hình thức quảng cáo ở dạng truyền miệng từ gia đình và bạn bè là nguồn đáng tin cậy nhất đối với người tiêu dùng trong khu vực Đông Nam Á, các kênh truyền thông trực tuyến cũng đang dần thể hiện rõ hiệu quả trong thời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh.

Theo đó, ở Đông Nam Á có tới 88% người tiêu dùng có niềm tin lớn nhất vào các khuyến nghị từ gia đình và bạn bè (phương thức quảng cáo truyền miệng), người tiêu dùng Philippines dẫn đầu với 91% (tăng 1 điểm so với 2013). Ở Việt Nam, phương thức quảng cáo truyền miệng đạt mức tăng lớn nhất, tăng 8 điểm đến 89%. Tương tự như vậy, 89% người Indonesia (tăng 4 điểm) tin vào các lời khuyến nghị từ những người thân quen mà họ biết, tiếp theo là Malaysia (86%, tăng 1 điểm), sau đó đến Singapore ở mức 83% (giảm hai điểm) và Thái Lan ở mức 82% (tăng ba điểm).

Các hình thức mà quảng cáo mà người tiêu dùng Việt tin tưởng nhiều nhất (Nguồn: Nielsen)

Đặc biệt trong đó, các trang web có thương hiệu cũng là một trong số các kênh quảng cáo đáng tin tưởng nhất với mức 83% người Việt có niềm tin. Tiếp đến, 75% số người trả lời khảo sát Việt Nam chỉ ra rằng họ tin tưởng vào các ý kiến của người tiêu dùng được đăng trực tuyến.

Sự tín nhiệm vào các phương tiện quảng cáo trực tuyến trả tiền ngày càng cao hơn

Trong các định dạng quảng cáo trực tuyến trả tiền, người tiêu dùng Việt Nam có niềm tin nhiều nhất vào các quảng cáo gắn với công cụ tìm kiếm với 55%. Độ tin cậy vào quảng cáo video trực tuyến, quảng cáo trên các mạng xã hội và quảng cáo banner trực tuyến theo sát ở 52%, 48% và 45% tương ứng.

Các hình thức quảng cáo trực tuyến mà người Việt tin tưởng nhiều nhất (Nguồn: Nielsen)

Quảng cáo trực tuyến làm người tiêu dùng dễ hành động sau khi xem quảng cáo

Báo cáo của Nielsen cũng cho thấy rằng ở Việt Nam, chỉ số hành động qua mặt chỉ số niềm tin đối với hầu hết 19 định dạng quảng cáo trong cuộc khảo sát. 93% người trả lời khảo sát Việt Nam cho biết rằng đa số họ sẽ làm theo những khuyến nghị từ gia đình và bạn bè, tiếp theo là phương thức quảng cáo trên các web mang thương hiệu và quảng cáo trên truyền hình dễ làm cho người tiêu dùng có hành động, tương ứng với 89% và 82%. 

Chỉ số hành động và niềm tin khi xem xong quảng cáo (Nguồn: Nielsen)

Lại có những định dạng quảng cáo có mức độ tin tưởng thấp nhưng lại có hiệu quả rất cao trong việc thúc đẩy người tiêu dùng đến các điểm mua hàng. Điều này đặc biệt đúng đối với các định dạng quảng cáo trực tuyến và quảng cáo trên các phương tiện di động. Chỉ số hành động vượt quá chỉ số niềm tin hơn hai con số cho hình thức quảng cáo trên các phương tiện truyền thông xã hội (48% người tin; 72% người sẽ có hành động), quảng cáo gắn với các công cụ tìm kiếm (55% người tin; 79% người có hành động), banner quảng cáo trực tuyến (45% người tin, 64% người có hành động), quảng cáo trên các thiết bị di động (37% người tin; 58% người có hành động) và quảng cáo video trực tuyến (52% người tin; 70% người có hành động).

Quảng cáo nào có ảnh hưởng lớn nhất đến người tiêu dùng

Quảng cáo có nội dung liên quan đến gia đình có nhiều khả năng cộng hưởng đến người tiêu dùng Việt. Tiếp đến, nội dung quảng cáo liên quan đến sức khỏe, có tính hài hước và theo chủ đề thực tế cuộc sống cũng có khả năng gây cảm xúc đến người xem.

"Để thực hiện một kết nối lâu dài và có ý nghĩa với người tiêu dùng, các nhà quảng cáo cần phải hiểu về khán giả và sở thích của họ. Quảng cáo có tính tập trung vào gia đình, sức khỏe, mang tính hài hước hoặc những câu chuyện mang tính thực tế có khả năng thu hút và dễ gây cảm xúc cho người tiêu dùng trong khu vực Đông Nam Á và mang đến cho họ những phản ứng tích cực.", Trưởng bộ phận Các Giải Pháp Tiếp Cận Người Tiêu Dùng khu vực Đông Nam Á, Bắc Á và Thái Bình Dương của Nielsen cho biết

Điều tra toàn cầu của Nielsen về độ tin cậy vào quảng cáo được tiến hành từ 23/2 - 13/3/2015 và lấy ý kiến của hơn 30.000 khách hàng ở 60 quốc gia ở châu Á - Thái Bình Dương, châu Âu, Mỹ Lantin, Trung Đông, châu Phi và Bắc Phi. Điều tra được dựa trên độ tuổi và giới tính ở mỗi quốc gia, dựa trên số người sử dụng Internet và được tính toán làm đại diện của người tiêu dùng Internet. Điều tra có sai số ±0.6%. Điều tra của Nielsen được dựa duy nhất trên hành vi của người trả lời khi tiếp cận trực tuyến. Mức độ thâm nhập Internet của mỗi nước là khác nhau. Nielsen sử dụng chuẩn báo cáo tối thiểu 60% thâm nhập Internet hay dân số trực tuyến 10 triệu người cho điều tra. Điều tra toàn cầu này cũng bao gồm chỉ số lòng tin khách hàng (Global Consumer Confidence Index) được hình thành vào năm 2005.

QA

Quảng cáo di động: cách nào để thu hút

(ICTPress) - Công ty nghiên cứu thị trường Epinion (Đan Mạch) và Công ty Truyền thông Omnicom hôm nay (29/10) đã trình bày những nghiên cứu về hành vi và thái độ của người dùng Đông Nam Á đối với các quảng cáo trên điện thoại di động (ĐTDĐ) thông minh (smartphone) tại TP. HCM.

Nghiên cứu dựa trên trả lời phỏng vấn của 2600 và các dữ liệu lớn (big data) của 489 ngàn người dùng Việt Nam, 145 ngàn người Thái Lan, 129 ngàn người Malaysia, 127 ngàn người Philippines và 97 ngàn người Indonesia tuổi từ 15 đến 54.

Theo nghiên cứu này, ĐTDĐ trở thành một công cụ thiết yếu với nhiều người. Có đến 60% người được hỏi cảm thấy không thoải mái nếu thiếu smartphone, 56% không bao giờ tắt điện thoại và 39% không thể rời mắt khỏi màn hình điện thoại lấy một giờ.

Người dùng smartphone trong độ tuổi 15 - 24 và 25 - 14 tìm kiếm thông tin trên ĐTDĐ nhiều hơn so với các lứa tuổi khác. Người càng lớn tuổi có khuynh hướng dùng máy tính, máy tính bảng để tìm thông tin thay vì dùng điện thoại.

Nghiên cứu cũng cho biết "Bốn cột trụ (bốn C) của quảng cáo trên thiết bị di động" (The Four Cs of Mobile Advertising), định nghĩa lại 4 lĩnh vực chính giúp định hình thị trường quảng cáo trên thiết bị di động hiện nay là kênh tiếp cận (Channel), bối cảnh (Context), nội dung (Content) và kết nối (Connect).

Hình 1: Thiết bị mà người dùng sử dụng để tìm kiếm thông tin (nguồn Epinion)

Một quảng cáo hấp dẫn người dùng cần phải hướng đến các nhu cầu người dùng (consumner-centric). Bên cạnh đó, nếu muốn tăng sự tương tác của người dùng qua các quảng cáo trên thiết bị di động, các quảng cáo nên có phần thưởng, khuyến mãi, cơ hội trở thành thành viên hay nội dung quảng cáo mang ý nghĩa, giúp ích cho cộng đồng và xây dựng mối quan hệ bền vững với khách hàng.

Các nội dung được quan tâm hàng đầu liên quan đến sở thích của người dùng (chiếm 46% người được khảo sát). Các nội dung về giải trí như âm nhạc, bài hát ở vị trí thứ hai (44%), nội dung liên quan đến phát triển cá nhân vị trí thứ ba (43%),.. 

Hình 2: Nội dung quan tâm theo các lĩnh vực (nguồn Epinion)

Người sử dụng điện thoại thích (like) hay chia sẻ (share) các quảng cáo liên quan đến khuyến mại (66%) hay sản phẩm mới (65%),  hoặc vui nhộn (42%)

Hình 3: Nội dung quảng cáo được mọi người thích và chia sẻ

Các nghiên cứu trên rất hữu ích và kịp thời cho các thương hiệu bắt tay vào quảng cáo trên ĐTDĐ với quy mô lớn hơn nhưng mới ở mức tổng quan. Do đó, ông Thomasen, Giám đốc Kinh doanh và Tiếp thị của Epinion cũng cho rằng: “Chúng ta cần thêm nhiều nghiên cứu khác để có được chiến lược cho từng ngành hàng chứ không đơn thuần chỉ là chuyển các chiến lược marketing số hóa (digital marketing) trên ĐTDĐ".

Người tiêu dùng không chỉ sử dụng ĐTDĐ chỉ để liên lạc hay giải trí nên các thương hiệu cần chú ý nâng cao tính tiện ích của các nội dung được quảng cáo; đồng thời xem xét, xác định lại nhu cầu của người tiêu dùng và tìm kiếm phương cách sáng tạo để thông tin quảng cáo trở nên hữu ích hơn với người dùng khi thực hiện các chiến lược quảng cáo trên ĐTDĐ.

 Đào Trung Thành

Những thương hiệu công nghệ đắt giá nhất hành tinh

Với tổng giá trị thương hiệu lên tới 700 tỉ USD, những thương hiệu toàn cầu sau đang mang lại những nguồn thu khổng lồ, đồng thời đi đầu trong cuộc cách mạng công nghệ hiện nay.

Interbrand vừa công bố danh sách 100 thương hiệu toàn cầu có giá trị nhất, và trong số này không thiếu các đại gia công nghệ, thậm chí còn đứng đầu danh sách như Apple, Google và Microsoft.

Căn cứ để Interbrand xác định các thương hiệu toàn cầu giá trị nhất này là thông qua phân tích nhiều cách thức mà thương hiệu đó mang tới giá trị cho tổ chức doanh nghiệp, từ việc đáp ứng kỳ vọng khách hàng tới thúc đẩy giá trị kinh tế.

Mức xếp hạng dựa trên sự kết hợp các thuộc tính tạo nên giá trị tích lũy của thương hiệu, bao gồm cả hiệu quả tài chính, vai trò mà thương hiệu tác động tới lựa chọn của khách hàng và sức mạnh mà thương hiệu có được để tạo dựng giá trị hình ảnh hoặc bảo đảm doanh thu của công ty.

Nhiều hãng công nghệ lọt Top 100 thương hiệu toàn cầu có giá trị nhất

Apple - 170 tỉ USD

Đứng đầu danh sách TOP 100 thương hiệu toàn cầu giá trị nhất của Interbrand là Apple, được định giá tới hơn 170 tỉ USD. Doanh thu trong năm 2014 của Apple đạt trên 182 tỉ USD và là thương hiệu đắt giá nhất thế giới hiện nay.

Google - 120 tỉ USD

Xếp sau Apple là Google, gã khổng lồ về Internet với giá trị thương hiệu đạt mức trên 120 tỉ USD. Doanh thu năm 2014 của Google đạt 66 tỉ USD và hiện đang được xem là tên tuổi đáng gờm trong lĩnh vực công nghệ.

Microsoft - 67 tỉ USD

Đứng ở vị trí thứ 3 trong danh sách của Interbrand là "đại gia" Microsoft - hãng phần mềm lớn nhất thế giới có giá trị thương hiệu hơn 67 tỉ USD. Mặc dù trong thời gian vừa qua Microsoft gặp nhiều khó khăn do nhu cầu PC giảm mạnh, nhưng hãng này đang dần mạnh trở lại với rất nhiều các sản phẩm đáng chú ý.

Gần đây nhất, Microsoft đã bất ngờ công bố Surface Book, chiếc laptop lai đầu tiên của hãng này. Surface Book cũng đánh dấu sự trở lại đầy ấn tượng của Microsoft, đồng thời cho thấy hãng đang thực sự thay đổi để thích nghi với nhu cầu của thị trường.

Samsung - 45 tỉ USD

Hãng điện tử Samsung của Hàn Quốc đứng thứ 7 trong danh sách với giá trị thương hiệu trên 45 tỉ USD. Danh mục sản phẩm của Samsung khá đa dạng nhưng thời gian gần đây được biết nhiều hơn trong mảng di động với các dòng sản phẩm Galaxy S, Galaxy Note… Samsung đang là đối thủ cạnh tranh số 1 của Apple trong mảng điện thoại di động.

Amazon - 37 tỉ USD

Tiếp theo là Amazon, hãng thương mại điện tử và dịch vụ điện toán đám mây hàng đầu thế giới, với giá trị thương hiệu đạt mức trên 37 tỉ USD. Amazon đang có tốc độ phát triển rất nhanh, đồng thời sẵn sàng nhảy vào lĩnh vực sản xuất thiết bị với các sản phẩm như máy tính bảng Kindle Fire hay chiếc điện thoại Fire Phone. Những thiết bị này đều được tích hợp sẵn dịch vụ trực tuyến của Amazon giúp người dùng trải nghiệm và mua sắm tại trang web này dễ dàng và thuận tiện hơn.

Trong danh sách các thương hiệu toàn cầu giá trị nhất của Interbrand còn có sự góp mặt của các đại gia công nghệ như Intel, Lenovo, Oracle, Cisco, Sony, HP… và cả mạng xã hội Facebook.

Riêng Lenovo là cái tên mới trong danh sách xếp hạng của Interbrand. Đứng ở vị trí 100, Lenovo được định giá thương hiệu trên 4 tỉ USD nhưng thực chất giá trị này không tính gộp mảng kinh doanh máy chủ IBM System X và Motorola Mobility. Lenovo đã chi xấp xỉ 2,1 tỉ USD để mua lại IBM System X, và chi 2,91 tỉ USD cho thương vụ mua lại Motorola Mobility. Hiện doanh thu hàng năm của Lenovo đạt mức 46 tỉ USD.

Trong khi đó, một "đồng hương" khác của Lenovo là Huawei cũng nằm trong danh sách của Interbrand với giá trị thương hiệu 4,9 tỉ USD. Gần đây, Huawei đầu tư mạnh tay vào lĩnh vực di động với các mẫu smartphone mới nhằm cạnh tranh với các đối thủ sừng sỏ hơn. Huawei cũng vừa tuyên bố sẽ chi 1 tỉ USD cho các nhà phát triển ứng dụng di động trong vòng 5 năm tới.

Danh sách các thương hiệu công nghệ toàn cầu giá trị nhất trong xếp hạng của Interbrand.

STT

 Thương hiệu

 Giá trị thương hiệu (tỉ USD)

Xếp hạng

 1

 Apple

 170,276

1

 2

Google

 120,314

2

3

 Microsoft

67,670

4

 4

 IBM

 65,095

 5

 5

 Samsung

 45,297

 7

 6

 Amazon

 37,948 

 10

 7

 Intel

 35,415

 14

 8

 Cisco

 29,854

 15

 9

 Oracle

 27,283 

 16 

 10

 HP 

 23,056

 18

 11

 Facebook

 22,029

 23 

 12

 SAP

 18,768

 26

 13

 eBay 

 13,940

 32

 14

 Sony 

 7,702

 58

 15

Adobe

 6,257

 68

 16

 Huawei

 4,952 

 88

 17

 Lenovo 

 4,114

 100

 VnMedia

Mua được iPhone 6, phải mất bao nhiêu ngày làm việc?

(ICTPress) - Bạn có nghĩ iPhone quá đắt đỏ, và nhiều người phải làm việc nhiều tháng mới mua được một chiếc iPhone.

Một người New York có thu nhập trung bình chỉ làm việc có 3 ngày để mua được chiếc iPhone 6 mới, trong khi một người Bắc Kinh phải mất 27 ngày làm việc.

Các thông tin này được rút ra từ một xếp hạng chi trả và giá cả ở 71 thành phố, được Ngân hàng Thụy Sỹ UBS tập hợp và CNN thông tin.

Xếp hạng này được xuất bản 3 năm lần cho thấy những người dân giàu có của Zurich phải làm việc ít nhất gần 21 giờ để có thể mua được chiếc iPhone 6. Trong khi đó, một người London mất nhiều thời gian hơn là 41 giờ, và người lao động ở thành phố Mexico phải làm việc khoảng hơn 200 giờ để mua được sản phẩm xa xỉ này.

Nghiên cứu này cũng cho thấy một người làm việc ở Kiev hay Ukraina phải làm việc tới 627 giờ - hay 78 ngày mới có thể mua được chiếc iPhone. Ở Nairobi và Jakarta, người dân phải làm việc tới 468 giờ tương đương gần 59 giờ để mua chiếc điện thoại này.

Nghiên cứu cũng cho thấy những khả năng đáp ứng của nhiều người dân ở nhiều thành phố toàn cầu, điều này giúp cho những đối thủ của Apple ở nhiều quốc gia có thể bán sản phẩm của mình. Ví dụ, hãng sản xuất điện thoại trong nước của Ấn Độ là Micromax gần đây đã trở thành nhà bán lẻ smartphone lớn nhất ở quốc gia này. Trên thực tế, Ấn Độ không có một cửa hàng Apple nào vì các sản phẩm quá đắt đỏ với người lao động trung bình.

Trong khi đó, hãng sản xuất smartphone ở Bắc Kinh là Xiaomi đã trở thành 1 trong 5 nhà sản xuất smartphone hàng đầu thế giới và thường xuyên vượt mặt Apple ở Trung Quốc.

Đầu năm nay, Xiaomi đã đạt số lượng bán ra kỷ lục, 2,12 triệu chiếc smartphone trong 24 giờ và đạt kỷ lục Guiness trong lĩnh vực này.

Dưới đây là thống kê số giờ làm việc của một số người dân ở các thành phố toàn cầu phải làm việc để có thể mua được iPhone 6, theo UBS: Athens - 98,2 giờ, Bangkok - 149,6 giờ, Bắc Kinh - 217,8 giờ, Chicago - 28,4 giờ, Geneva - 21,6 giờ, Hong Kong - 51,9 giờ, Jakarta - 468 giờ, Kiev - 627,2 giờ, London - 41.2 giờ, Los Angeles - 27,2 giờ, Mexico City - 217.6 giờ, Miami - 27 giờ ,Moscow - 158,3 giờ, Nairobi - 468 giờ, New Delhi - 360,3 giờ, New York City - 24 giờ, Paris - 42,2 giờ ,Rio de Janeiro - 139,9 giờ, Rome - 53,7 giờ, Thượng Hải - 163,8 giờ, Sydney - 34 giờ, Tel Aviv - 75,3 giờ, Tokyo - 40,5 giờ, Toronto - 37,2 giờ, Zurich – 20,6 giờ.

HY

Những con số thú vị về doanh số bán hàng di động toàn cầu

Tính trung bình trong tất cả các điện thoại (kể cả điện thoại thông thường và điện thoại thông minh) thì Samsung và Apple lần lượt chiếm vị trí đầu bảng với thứ tự 19% và 10%, còn hãng di động Huawei của Trung Quốc lần đầu tiên đủ điều kiện đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng với hơn 7%.

Trang web công nghệ Counterpoint gần đây đã phát hành báo cáo điều tra số lượng điện thoại di động bán ra trong quý thứ hai của năm tài chính 2015 trên toàn thế giới.

Báo cáo cho biết, trong tất cả các điện thoại (kể cả điện thoại thông thường và điện thoại thông minh) thì hãng sản xuất Samsung và Apple lần lượt chiếm vị trí đầu bảng với thứ tự 19% và 10%, còn hãng di động Huawei của Trung Quốc lần đầu tiên đủ điều kiện đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng với hơn 7 %. Vị trí thứ tư là hãng di động “gạo cội” Nokia.

Nguồn tin cho biết, điện thoại thông thường vẫn được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Còn nếu xét bảng xếp hạng chỉ có điện thoại thông minh thì danh sách bảng xếp hạng hàng đầu theo thứ tự lần lượt là Samsung, Apple, Huawei, ZTE và Xiaomi.

Ngoài ra, báo cáo cũng kết luận những điểm rất thú vị sau đây:

1. Trên phạm vi toàn thế giới, cứ mỗi một chiếc điện thoại di động được bán ra, trong đó có một chiếc điện thoại Samsung.

2. ASUS đã trở thành “mặt hàng phát triển nhanh nhất”, so với năm ngoái, doanh số xuất xưởng tăng lên 5 lần, và doanh số bán điện thoại VIVO tăng 4 lần.

3. Cứ bốn chiếc điện thoại di động được bán ra thì ba chiếc là điện thoại thông minh.

4. Lợi nhuận điện thoại di động hiện nay của Apple tăng vọt so với tất cả các nhà sản xuất khác, trong đó có Samsung.

5. Cứ hai chiếc điện thoại thông minh được bán ra, trong đó có một chiếc hỗ trợ LTE.

6. Hai phần ba điện thoại hỗ trợ LTE có nguồn gốc từ Mỹ và Trung Quốc.

7. Doanh số bán điện thoại hỗ trợ LTE tại Trung Quốc tăng gấp 5 lần, ở Ấn Độ tăng 3 lần. 

Theo Bạch Dương (danviet.vn)