Syndicate content

Kinh tế chuyên ngành

Đâu là giá trị thật của Apple

(ICTPress) - Apple thực sự hoạt động hiệu quả như thế nào? Horace Dediu của Asymco gần đây đã nghiên cứu chi tiết tài chính của Apple và sử dụng hai phương pháp đánh giá phổ biến để nhận định về tổng giá trị của nhà sản xuất iPhone này.

Đầu tiên, Dediu tính toán hệ số giá thu nhập trên cổ phiếu (hệ số P/E) của Apple bằng cách sử dụng doanh thu của Apple trên mỗi cổ phiếu trong 12 tháng qua. Theo Dediu, Apple có một hệ số P/E 13,3. So sánh với Google có hệ số P/E là 29, Microsoft có hệ số 13,7 và Samsung có hệ số P/E là 11. Một công ty khác được so sánh là Amazon có hệ số P/E là 1270.

Như Dediu đã đề cập, P/E của Apple là 13,3 cho thấy một nhà đầu tư đã mua một cổ phiếu của Apple có thể trông đợi thu lại sự đầu tư ban đầu này với doanh thu từ công ty qua một giai đoạn thời gian là 13,3 năm. Bất cứ thu nhập nào sau giai đoạn này là “lợi nhuận” cho nhà đầu tư.

Tuy nhiên, nhà phân tích đã cho ra rằng các hệ số P/E thực tế là các chỉ số thấp của một giá trị thực của công ty. Dediu cho biết “Một công ty có thể trì hoãn thu nhập (như Apple và Microsoft thực hiện), công ty đó có thể đầu tư thu nhập (như Amazon làm) và có thể tránh khai thuế vì có thể chịu phí tổn. Vì lý do này, Dediu tin rằng hệ số giá trị doanh nghiệp trên dòng tiền nhàn rỗi  (EV/FCF) là một chỉ số tin cậy hơn nhiều của tổng giá trị của một công ty.

Như Dediu cho biết, giá trị doanh nghiệp “không phải là một vấn đề dư luận nhưng là một thực tế” - bao gồm nợ trong tính toán giá trị và “loại trừ tiền mà là một phương pháp hiệu quả cũ”. Tương tự, dòng tiền nhàn rỗi chỉ bao gồm dòng tiền đang hoạt động sau khi tiền vốn đã được trừ đi.

Mặc dù cả hai hệ số này mang tới cho các nhà đầu tư một ý tưởng là một công ty sẽ hoạt động hiệu quả như thế nào, Dediu cho biết các hệ số này có thể “dối trá” trong một số tình huống cụ thể. Ví dụ, “nếu một công ty có số tiền tối thiểu và tuyên bố dòng tiền nhàn rỗi như là thu nhập sau đó các hệ số là giống nhau”. Tuy nhiên, các hệ số P/E và EV/FCF của Apple khác khác biệt. Theo Dediu, Apple có một hệ số EV/FCF là 7,54, gần một nửa với hệ số P/E được tính toán.

Nói một cách khác, thị trường nhận thấy Apple thực sự có “hơn 7 năm có lãi và không phải 13. Điều này đặt công ty có trụ sở Cupertino, California vượt xa với 4 đối thủ công nghệ còn lại.

Do đó, tại sao có nhiều sự nhầm lẫn về giá trị của Apple? Dediu co biết các nhà đầu tư đã có thể khởi động lại bằng doanh thu chưa thực hiện của Apple. Theo nhà phân tích, “Chúng ta đã có những nhầm lẫn tương tự khi cho rằng công ty này thu nhập phần lớn từ iPhone”.

QM

Theo Wall Street

Khách hàng thạo công nghệ số - ưu tiên quan trọng nhất của lãnh đạo ASEAN năm 2014

(ICTPress) - Hôm nay 25/11, IBM công bố kết quả nghiên cứu mới nhất của Viện nghiên cứu giá trị kinh doanh IBM (IBM’s Institute for Business Value), với tiêu đề “Doanh nghiệp hướng tới khách hàng (Customer-activated Enterprise)”.

Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp hơn 4.000 giám đốc điều hành (CEO), giám đốc marketing (CMO), giám đốc tài chính (CFO), giám đốc công nghệ thông tin (CIO) và các thành viên khác trong Ban giám đốc (CxO) đến từ 70 quốc gia và 20 ngành kinh tế trên toàn thế giới (trong đó có 75 CxO từ các nước ASEAN, đại diện cho các doanh nghiệp (DN) chính phủ và tư nhân của hơn 12 ngành).

Theo các CxO tại ASEAN, thị trường và công nghệ là hai nhân tố bên ngoài quan trọng nhất sẽ có tác động đến các DN. Cũng giống như các CxO trên toàn cầu, các CxO tại ASEAN thấy trước được những thay đổi lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển DN trong vòng từ 3-5 năm tới, và ý thức rất rõ rằng chuyển đổi sang các tương tác xã hội và kỹ thuật số là một tất yếu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các CxO tại ASEAN có những phương thức tiếp cận cởi mở hơn các CxO trên thế giới trong việc vận hành tổ chức của mình, khi 78% trong số họ đang có một mạng lưới đối tác rộng lớn (tỷ lệ này trên toàn cầu là 73%).

Tuy các CxO trên thế giới đánh giá khác nhau về mức độ ảnh hưởng của những áp lực từ bên ngoài, tất cả đều đồng ý rằng công nghệ là 1 trong 3 áp lực lớn nhất. Chính tiến trình số hóa đã làm cho khách hàng có ảnh hưởng lớn hơn đối với các tổ chức và đã làm thay đổi kỳ vọng của họ. Trong năm 2014, những khách hàng am tường về kỹ thuật số được dự báo sẽ trở thành ưu tiên quan trọng nhất trong chiến lược của các Ban Giám đốc.

DN hướng tới khách hàng

Báo cáo của IBM còn chỉ ra một mối liên hệ quan trọng giữa mức độ thành công của các DN với mức độ cộng tác bên ngoài. Các công ty hoạt động hiệu quả hơn có mức độ sẵn sàng tiếp nhận ảnh hưởng và cộng tác với khách hàng hơn 54% so với những công ty trung bình.

Các CxO tại ASEAN đã nhận ra rằng nhu cầu của khách hàng là chìa khóa duy trì lòng trung thành. Khi hiểu rõ hơn nhu cầu của khách hàng cũng như có được  một trải nghiệm toàn diện và nhất quán trên tất cả các kênh, các DN sẽ có vị thế tốt hơn để đáp ứng những nhu cầu mới.

Ông Patriek Zanas, Lãnh đạo khu vực ASEAN, Phụ trách Chiến lược và Đổi mới thuộc Bộ phận Dịch vụ Kinh doanh Toàn cầu của IBM cho biết: "Nhìn chung, các công ty ASEAN hiện nay ý thức rất rõ rằng chìa khóa để có thể duy trì được các mối quan hệ thực chất và lâu dài với khách hàng là hiểu rõ về khách hàng và biết cách phục vụ họ tốt hơn, phù hợp với nhu cầu và sở thích của họ. Tuy nhiên, nhiều DN vẫn còn đang gặp khó khăn trong việc đổi mới tổ chức cũng như thay đổi suy nghĩ của các nhân viên trực tiếp giao dịch với khách hàng. Việc đáp ứng những biến động của thị trường và kỳ vọng của khách hàng vừa là một thách thức trong việc quản lý thay đổi và hành vi, vừa là một thách thức về mặt công nghệ."

Các CEO chia sẻ quyền kiểm soát

46% CxO tại khu vực ASEAN đồng ý rằng khách hàng ngày nay có ảnh hưởng đáng kể đối với DN, và họ nhận ra sự cần thiết phải cân bằng lại các ưu tiên để phù hợp hơn với những kỳ vọng mới của khách hàng. Nghiên cứu cho thấy 54% các CxO trên toàn cầu được phỏng vấn cũng có có quan điểm tương tự. Tuy nhiên, tại khu vực ASEAN, điều này không đồng nghĩa với sự hợp tác sâu sắc hơn, khi chỉ có 36% đồng ý rằng họ thực sự cộng tác với khách hàng của mình, so với tỉ lệ 46% từ những người đồng nhiệm của họ. Dù sao, hoạt động cộng tác sâu sắc cũng là một mục tiêu chung khi 91% các CxO tại ASEAN mong muốn gắn kết tốt hơn với khách hàng trong vòng từ 3 - 5 năm tới. Họ cũng nhận ra sự cần thiết phải cân bằng lại các ưu tiên, kể cả khi kỳ vọng của khách hàng thay đổi.

Xóa bỏ khoảng cách để tạo ra sự gần gũi với khách hàng

Một kỷ nguyên mới của sự kết nối, của những thông tin do người dùng tạo ra ngày càng nhiều, và của đòi hỏi bắt buộc về mức độ giao tiếp mở và liên tục đang đòi hỏi các tổ chức ngày càng phải nâng cao tính minh bạch. Nhận thức rằng khách hàng đã tạo ra những ảnh hưởng lớn đối với tổ chức, các lãnh đạo DN đang rỡ bỏ các rào cản bên trong và bên ngoài, để mở ra những cơ hội mới cho sự hợp tác, đổi mới và tăng trưởng.

Nhận thức được vai trò của công nghệ đối với các hoạt động và mức độ gắn kết khách hàng, các công ty đang thu hút khách hàng bằng cách tiên phong áp dụng những sáng tạo mới, kết hợp giữa kỹ thuật số và các công cụ vật lý, để có đáp ứng tốt hơn nhu cầu của những khách hàng tinh thông về công nghệ. Nghiên cứu của IBM đã chỉ ra rằng các DN trong khu vực ASEAN (45% so với 36% trên toàn cầu) đã tiến xa hơn một chút trong việc phát triển một chiến lược kết hợp giữa các công cụ kỹ thuật số và các công cụ vật lý so với phần còn lại của thế giới. Trên toàn cầu, thách thức lớn nhất đối với 63% của những người được phỏng vấn là việc thiếu một kế hoạch truyền thông xã hội toàn diện khi triển khai một chiến lược kỹ thuật số.

Tại khu vực ASEAN, các quan ngại về pháp lý và an ninh có tác động cản trở các sáng kiến ​​kỹ thuật số nhiều hơn so với các tổ chức khác trên toàn cầu (54% so với 38% trên toàn cầu).

Trong khi các CxO đang triển khai các sáng kiến ​​khác nhau để nâng cao trải nghiệm của khách hàng, nhiều người vẫn đang gặp khó khăn để gặt hái được thành công trong hoạt động kinh doanh trên mạng xã hội.

79% số người được phỏng vấn cho biết họ đủ nhanh nhạy khi nắm bắt các xu hướng mới, nhưng chỉ có 37% thu hút được khách hàng thông qua hoạt động kinh doanh trên mạng xã hội. Kết quả tại các nước ASEAN cũng tương tự, khi các DN đang tập trung nhiều hơn vào việc đảm bảo tính nhất quán, coi đây là yếu tố chính để nâng cao trải nghiệm khách hàng. 22% các CxO tại ASEAN (so với 35% trên toàn cầu) nhận ra rằng hiện tại họ không hiểu rõ khách hàng của mình, nhưng dự báo sẽ có những cải tiến đáng kể trong tương lai. Giống như những người đồng cấp của họ trên toàn cầu, khoảng 4/5 trong số họ hy vọng sẽ hiểu rõ hơn về khách hàng của mình trong vòng từ 3-5 năm tới.

Các Giám đốc Tiếp thị và Giám đốc CNTT đều cho biết họ có dự định triển khai những cải tiến lớn để điều chỉnh và tái tạo lại cách làm việc với khách hàng. Năm 2012, 57% các CEO dự báo các ​​kênh kỹ thuật số sẽ trở thành một trong những phương thức chính họ sẽ sử dụng để tương tác với khách hàng trong vòng 5 năm tới.

Trong năm 2013, 52% các CxO cho biết họ đã đạt đến trạng thái đó. Cũng giống như những người đồng cấp trên toàn cầu, các CxO tại ASEAN có ý định tương tác thông qua các kênh kỹ thuật số với khách hàng ở một mức độ cao hơn nhiều trong tương lai - 88% có mong muốn này trong vòng từ 3 - 5 năm tới.

Minh Anh

15 xu hướng sẽ định hình cuộc sống tương lai

(ICTPress) - Các xu hướng bắt đầu nhỏ có thể thổi bùng sự chuyển đổi cách chúng ta sống. Ví dụ, chỉ vài năm trước, truyền thông xã hội giống như một mốt cho giới trẻ. Ngày nay chúng ta ứng dụng nó để liên lạc - tìm nơi để ăn - thậm chí hẹn hò với mọi người.

Chúng ta quyết định mua gì? Công nghệ đeo/mang vào người xuất hiện? Chúng ta kiểm tra điện thoại thường xuyên hơn?

Các công ty cần quan tâm tới việc khách hàng thay đổi cách thức hoạt động và suy nghĩ, bởi vì nếu các công ty không điều chỉnh sẽ bị bỏ lại phía sau.

Dưới đây là 15 trong số 99 thực tiễn về tương lai của doanh nghiệp để bạn có thể nắm bắt được chúng ta đang ở đâu và chúng ta sẽ đi đâu.

Có thể hơi cùn nhưng truyền thông xã hội có thể làm bạn mất bạn bè dễ dàng.

Chúng ta kiểm tra điện thoại cứ 9,6 phút/lần trong 1 ngày.

Và phần lớn, chúng ta không sử dụng điện thoại để kiểm tra thời gian, nhà phân tích Mary Meeker cho biết.

Khối lượng nội dung trên Internet tiếp tục tăng với tốc độ chóng mặt.

Google thực hiện 2 triệu tìm kiếm/phút và cứ 60 giây có tới 72 giờ video được tải lên Youtube. Bạn có thể tìm thấy nhiều hơn về hình ảnh thông tin trên trang Daily Mail.

Chúng ta đang này càng xem nhiều video trực tuyến hơn.

Ai đó phải mất 5 triệu năm để xem khối lượng video sẽ vượt qua các mạng IP toàn cầu mỗi tháng vào năm 2017. Hãy đọc bài báo của Cisco. 

Chúng ta tò mò về những gì bạn bè chúng ta làm và họ đi đâu

Brian Solis cho biết, “Truyền thông xã hội là về khoa học xã hội nhiều hơn công nghệ” và cho biết các công ty không nắm bắt được sẽ loạng choạng.

Chúng ta nghe những người hoàn toàn xa lạ khi quyết định mua gì. Xin lỗi, mẹ nhé!

Nếu mẹ nói muốn mua một chiếc áo len, nhưng những người bình luận cho là chiếc áo rão ra từng phút, chúng ta không nên mua, Solis cho biết.

Nếu dịch vụ khách hàng tồi tệ với chúng ta, chúng ta sẽ rời bỏ và không bao giờ quay lại.

Những gì chúng ta ghét nhất? Bị rơi vào cuộc gọi thoại tự động hay cuốn và trang trợ giúp của một số trang web, theo Genesys.

Chúng ta quan tâm về việc chúng ta sẽ được đối xử như thế nào khi mua hàng.

Đối với một công ty muốn thể hiện đúng lúc, thì cần ở vào đúng “những khoảnh khắc sự thật”, giống như việc bạn mất một chiếc thẻ tín dụng hay chuyến bay của bạn bị hủy, theo McKinsey.

Chúng ta có ấn tượng không tốt về trải nghiệm khách hàng, chúng ta sẽ nhớ điều đó.

HelpScout cho biết các doanh nghiệp cần “dành thời gian để đọc câu hỏi của khách hàng cẩn thận trước khi đi tới phản hồi”. Các khách hàng thất vọng khi họ phải trả lời 3 lần để nhận được câu trả lời phù hợp.

Để tiết kiệm truy cập dữ liệu điện thoại di động, chúng ta vẫn sử dụng WiFi bất cứ khi nào có thể.

Dữ liệu này đến từ toàn cảnh truyền thông của OECD.

Chúng ta đang đo lường mọi chuyển động chúng ta tạo ra.

Và Mary Meeker cung cung số liệu này trước khi công bố Fitbit Force

Các ông bố đang chia sẻ công việc nhà tốt hơn.

Đồng thời, các bậc phụ huy tiếp tục xung đột về điều gì là tốt cho con em mình, Pew Research cho biết.

Vẫn có quá nhiều việc được trả lương thấp trên thế giới.

Đọc thêm thông tin ở đây. 

Có một nguy cơ lớn chúng ta sẽ cạn kiệt nguồn nước.

884 triệu người không thể tiếp cận nước sạch. Vào năm 2040, ít nhất có 3,5 tỷ người thiếu nước. OECD cho biết việc cạn kiệt nguồn nước ngầm có thể tác động lớn nhất tới nông nghiệp.

... Trong khi nơi khác ngập lụt.

Theo OECD, giá trị kinh tế của những tài sản bị rủi ro do ngập lụt sẽ khoảng 45.000 tỷ vào năm 2050.

QM

Theo SAP

Đi siêu thị bằng ZumSale

(ICTPress) - Đầu tháng 11 này, dân số Việt Nam chính thức cán mốc 90 triệu dân. Điều này đồng nghĩa với việc thị trường bán lẻ Việt Nam ngày càng rộng lớn.

5 nhóm tác giả vào chung kết cuộc thi “Viết ứng dụng cho điện thoại thông minh và máy tính bảng”, một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ Tuần CNTT Nhật Bản (Japan ICT Week 2013)

Trong khi sự xuất hiện của các siêu thị đã trở nên thông dụng và bão hòa thì những khó khăn mà người tiêu dùng gặp phải vẫn chưa được giải quyết. Họ vẫn phải chờ hàng giờ cho việc gửi xe, thanh toán, đợi hàng…

Điều này diễn ra đồng thời với sự bùng nổ của các thiết bị di động thông minh (smart phone, tablet, phablet…). Nắm bắt sự tiện dụng do các thiết bị di động thông minh mang lại, và để mở hướng mới cho việc mua hàng qua các thiết bị này, Công ty mIdeal đã phát triển phần mềm Zumsale, một phiên bản của Mobile Commerce.

Mobile Commerce (M-Commerce) là một hình thức đã được ứng dụng và khẳng định giá trị ở các thi trường châu Âu và Bắc Mỹ. Trong đó, nước Anh là nơi thị trường M-Commerce được xem là thị trường kiểu mẫu và cũng là nơi phát triển mạnh nhất với hơn 22,1 triệu người dùng điện thoại thông minh trên tổng số 61,8 triệu dân.

Năm 2011, tổng doanh số bán qua M-Commerce tại Anh đạt 1,3 tỷ USD. Chuỗi siêu thị Tesco (Anh) thậm chí đã bán hàng qua điện thoại và máy tính bảng bằng cách cho khách hàng quét mã QR Code và thanh toán trực tuyến tại các ga tàu điện ngầm. Kết quả là doanh thu của hãng tăng 130% chỉ sau 6 tháng thực hiện.

Ở quy mô nhỏ hơn, Donimo Pizza (Mỹ) đã ra mắt ứng dụng dùng mua hàng trực tuyến trên các nền tảng Android, Windows Phone, và đẩy doanh số bán hàng từ thiết bị cầm tay lên đến hơn 1 triệu USD mỗi tuần.

Những tiện ích mà M-Commerce mang lại đang dần thu hút sự chú ý của giới công nghệ và những hãng bán lẻ khắp nơi trên thế giới. M-Commerce cho thấy, đây chính là xu thế tất yếu của các thị trường bán lẻ trong tương lai gần khi mà các thiết bị thông minh đang dần chiếm lĩnh thị trường công nghệ.

Từ những lợi ích do M-Commerce mang lại và nhằm mục tiêu giúp các hãng bán lẻ khai thác tối đa thị trường rộng lớn và đa dạng như Việt Nam cũng như hy vọng giảm áp lực về thời gian cho người tiêu dùng hiện đại, Công ty mIdeas đã tạo ra ZumSale - giải pháp mang lại lợi ích cho cả các hãng bán lẻ và người tiêu dùng.

Mô hình kinh doanh
Sơ đồ hoạt động
Quy trình bán hàng

Với việc cung cấp những dịch vụ bán hàng, thanh toán qua smartphone có nối mạng, ZumSale giúp người tiêu dùng:

-  Lựa chọn được siêu thị gần nhất, xem được thông tin cần thiết về sản phẩm (giá cả, chất lượng,…)

-  Quản lý chi tiêu của gia đình thông qua việc lên danh sách và đặt lịch mua sắm

- Chia sẻ, mua hộ, mua nhóm để tăng chiết khấu

- Thanh toán trực tuyến hoặc tại nhà tiện lợi

ZumSale cũng là giải pháp giúp các hãng bán lẻ tiết kiệm chi phí mặt bằng, quầy thu ngân, tăng khả năng bán hàng, đồng thời trở thành cầu nối đắc lực với khách hàng, giúp quản lý thông tin khách hàng từ đó có chiến lược marketing hợp lý nhất.

Cùng với việc các thiết bị thông minh đang ngày càng phổ biến và nhu cầu mua hàng qua mạng của người tiêu dùng ngày càng cao, ZumSale sẽ thu hút được sự tham gia của nhiều hệ thống siêu thị, trở thành một siêu thị trực tuyến đa dạng đáp ứng nhu cầu mua sắm của mọi người.

 Công ty mIdeal cũng đã có buổi giới thiệu sản phẩm tại “Tuần công nghệ thông tin Nhật Bản 2013 - Japan ICT Week 2013” tổ chức tại Hà Nội vào nửa cuối tháng 10 vừa qua. Sản phẩm đã gây được sự chú ý của những đơn vị tham gia, đồng thời được đánh giá cao và Ban Tổ chức cuộc thi  “Viết ứng dụng cho điện thoại thông minh (smartphone) và máy tính bảng (tablet)”, một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ Tuần CNTT Nhật Bản (Japan ICT Week 2013) trao giải Nhì trong. Thời gian của cuộc thi được tổ chức từ 26/8 đến 23/10. Tổng giá trị giải thưởng là 10.000 USD).

Mặc dù còn non trẻ, nhưng Công ty mIdeas  vẫn đang nỗ lực để trở thành công ty gia công và xuất khẩu phần mềm thân quen và đáng tin cậy dành cho tất cả các doanh nghiệp trong các lĩnh vực bán lẻ, B2B, y tế, giáo dục…

Trương Công Hải

Công ty mIdeas

Tốc độ băng rộng làm tăng đáng kể thu nhập hộ gia đình

(ICTPress) - Ericsson phối hợp với Arthur D.Little, Martin Glaumman, Trưởng Bộ phận Viễn thông, CNTT, Truyền thông và Điện tử Bắc Âu và Đại học Công nghệ Chalmers tiến hành nghiên cứu về tác động kinh tế của tốc độ truy cập băng rộng đối với các hộ gia đình.

Tốc độ băng rộng làm tăng đáng kể thu nhập hộ gia đình

Ảnh: businessweek

Theo báo cáo của Nghiên cứu này, các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), khi tốc độ băng rộng tăng từ 4Mbps lên đến 8 Mbps, thu nhập hộ gia đình sẽ tăng thêm trung bình 122 USD/tháng.

Trong khi đó, các nước BIC (gồm Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc), khi có tốc độ băng rộng tăng từ 0,5 lên đến 4 Mbps, thu nhập hộ gia đình sẽ tăng thêm trung bình 46 USD/tháng.

Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy mối liên hệ giữa mức độ kết nối băng rộng và sự phát triển. Tại các nước OECD, nếu hộ gia đình chuyển từ không có kết nối băng rộng sang kết nối ở tốc độ 4 Mbps, thì thu nhập hàng năm trung bình của hộ gia đình sẽ vào khoảng 2.100 USD, tương đương 182 USD/tháng.

Sự gia tăng thu nhập hộ gia đình được dự báo tăng từ các nâng cấp tốc độ băng rộng (USD/tháng)

Trong khi đó, tại các nước BIC, nếu hộ gia đình chuyển từ không có kết nối băng rộng sang kết nối ở tốc độ 0,5 Mbps thì thu nhập hàng năm trung bình của hộ gia đình sẽ vào khoảng 800 USD, tương đương 70 USD/tháng.

Tại sao băng rộng lại tăng thu nhập hộ gia đình?

Có rất nhiều lý do để giải thích tại sao các hộ gia đình được hưởng lợi từ tốc độ băng rộng được tăng lên.

Đầu tiên là việc truy cập được tới các dịch vụ tiên tiến, ví dụ như hội nghị video, mang đến những thức làm việc hiệu quả, năng suất. Tăng tốc độ băng rộng cũng thúc đẩy hiệu suất cá nhân và làm việc từ xa qua nối mạng cho phép sắp xếp công việc hiệu quả hơn.

Thứ hai, nhiều nghiên cứu trước đây đã cho thấy băng rộng cho phép mọi người được cập nhật thông tin nhiều hơn, đào tạo tốt hơn và giàu có hơn - cuối cùng dẫn tới một sự nghiệp thuận lợi hơn.

Tuy nhiên, khi sự chín muồi của ICT tăng lên, những người tham gia không có băng rộng hoặc với băng rộng tốc độ thấp tại hộ gia đình sẽ cảm thấy khó khăn hơn để duy trì cạnh tranh ở thị trường băng rộng - giảm cơ hội tìm việc và xây dựng tài chính. Mức độ tốc độ băng rộng cần thiết để đạt lợi thế cạnh tranh trên thị trường lao động có thể được tăng lên theo thời gian để đạt được các phương thức tốt hơn để tham gia vào thị trường lao động.

Martin Glaumann, cùng với Arthur D.Little cho rằng “nghiên cứu này là cơ sở cho thấy tốc độ băng rộng là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách cần xem xét vai trò của băng rộng tốc độ cao đối với sự thúc đẩy kinh tế quốc gia.”

Erik Bohlin, chuyên gia tại Đại học Công nghệ Chalmers cho rằng “Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên đánh giá mức độ ảnh hưởng của tốc độ băng rộng đối với thu nhập hộ gia đình.”

Số liệu trong nghiên cứu này do Ericsson ConsumerLab tổng hợp từ năm 2010, tiến hành khảo sát ở 22.000 hộ gia đình từ 8 nước OECD (Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Nhật và Mỹ) và ba nước Brazil, Ấn Độ và Trung Quốc.

Minh Anh

Novanet - Quảng cáo nhắm chọn đúng khách hàng Việt tới 90%

(ICTPress) - Đây là thông tin được Công ty Cổ phần Tập đoàn Truyền thông và Công nghệ Nova cho biết về mạng quảng cáo Novanet - mạng quảng cáo ngữ cảnh hay nhắm chọn đúng khách hàng mục tiêu mà công ty Nova giới thiệu hôm nay 22/8.

Ông Tuấn Hà, Công ty Vinalink Media cho biết 50% đã là một tỷ lệ cao. Các đơn vị muốn quảng cáo hãy thử tất cả các mạng quảng cáo (ad-network) và mạng quảng cáo nào hiệu quả thì hãy sử dụng.

CEO Nova Nguyễn Minh Quý cho biết từ tháng 11/2012, mạng quảng cáo ngữ cảnh Novanet đã chính thức gia nhập thị trường và đến tháng 7/2013 đã có 300 trang xuất bản nội dung (publisher) như mp3.zing.vn, www.news.zing.vn, www.thanhnien.com.vn, www.tinhte.vn, www.tuoitre.vn... với chủ đề đa dạng: Công nghệ, Giải trí - Làm đẹp, Văn hóa - Xã hội, Sức khỏe - Y tế, Ẩm thực, Game, Giáo dục, Thể thao…

Để đạt hiệu quả quảng cáo cao, trong thời gian triển khai vừa qua, các tính năng của hệ thống đã được nâng cấp liên tục theo nhu cầu của khách hàng như tính chủ động, tính tiện ích, tính nhắm chọn đúng khách hàng. Thời điểm này sau một thời gian gia nhập thị trường có thể nói mạng Novanet đã làm khách hàng hài lòng, ông Quý cho biết thêm.

Việc nhắm chọn khách hàng đạt tỷ lệ cao cũng là nhờ Nova làm chủ công nghệ quảng cáo nhắm chọn sau 2 năm nghiên cứu. Ông Trần Trung Thành, Giám đốc Trung tâm Novanet cho biết công nghệ phân tích ngữ nghĩa vượt trội giúp Novanet có thể hiểu được nội dung của các website, phân tích và lựa chọn các quảng cáo phù hợp nhất hiển thị trên từng trang trên 1 website. Nhờ đó quảng cáo của doanh nghiệp có thể xuất hiện đúng lúc khách hàng đang quan tâm về sản phẩm và dịch vụ khi họ đang theo dõi nội dung liên quan trên các trang web thuộc về mạng quảng cáo Novanet.

Các công ty khi muốn quảng cáo thường quan tâm đến hiệu quả chi phí. Với Novanet, nhà quảng cáo có nhiều quyền nhắm chọn để mang lại hiệu quả cao cho quảng cáo của mình, như: Nhắm chọn chủ đề và từ khóa; Nhắm chọn địa lý; Nhắm chọn website; Nhắm chọn tần suất và Nhắm chọn thời gian.

Chi phí quảng cáo được tính theo hiệu quả. Cách tính chi phí quảng cáo rất linh hoạt. Lựa chọn theo hình thức CPC (Cost Per Click), nhà quảng cáo sẽ chỉ phải trả tiền khi có khách hàng click vào quảng cáo và lựa chọn hình thức CPM (Cost per 1000 impressions), nhà quảng cáo chạy sẽ trả tiền mỗi khi quảng cáo xuất hiện. Tùy vào mục tiêu và ngân sách của chiến dịch mà nhà quảng cáo lựa chọn hình thức quảng cáo phù hợp cho doanh nghiệp mình.

Hiện nay, quảng cáo CPC từ 1000 - 2000 đ/click đối với text và cao hơn 20% với banner tùy theo cấp độ website và chỉ bằng 1/3 giá thị trường mua theo hình thức cố định, ông Quý cho biết.

Nhà quảng cáo sẽ biết được hiệu quả quảng cáo nhờ có báo cáo thống kê theo thời gian thực, theo đó nhà quảng cáo có thể truy cập bất cứ lúc nào để theo dõi hiệu quả chiến dịch quảng cáo theo giờ, theo ngày, theo tuần, theo lưu lượng...

Báo cáo theo giờ trong ngày

Để đánh giá hiệu quả quảng cáo nhắm chọn Novanet, bạn hãy trải nghiệm với trang www.rnd.novanet.vn.

Hệ thống sẽ phân tích từng nội dung của trang website hoặc đường dẫn (URL), xem xét nội dung trên trang, ngôn ngữ, cấu trúc đường dẫn, cấu trúc trang… Từ các yếu tố đó, Hệ thống Novanet phân định nội dung vào các chủ đề thích hợp. Các quảng cáo sẽ được “phân phối” đúng các nội dung có chủ đề liên quan. Toàn bộ quá trình trên được xử lý tự động và trả lại kết quả tức thời.

Tới nay, Novanet đã thực hiện quảng cáo với 120 khách hàng thuộc mọi lĩnh vực và 600 chiếc dịch quảng cáo.

Minh Anh

Thanh toán mua sắm nhờ công nghệ nhận dạng khuôn mặt

(ICTPress) - Nếu bạn ở Helsinki không điện thoại hay ví, điều này không ngăn bạn đi mua sắm.

Công ty Uniqul của Phần Lan đã đăng ký bản quyền và kiểm thử một hệ thống thanh toán mới cho phép bạn thanh toán hóa đơn bằng khuôn mặt của bạn. Bạn có thể thanh toán tại nhà ga hay trung tâm mua sắm mà không phải rút thẻ tín dụng, thay vào đó bạn nhìn vào chiếc máy ảnh và đợi cho đến khi chiếc máy nhận ra. Sau đó, chiếc máy đưa ra các thông tin của bạn, bạn bấm ok và thanh toán sẽ được hoàn tất.

Diex nhiên là Uniqul sẽ phải lưu giữ thông tin thẻ tín dụng của bạn. Tuy nhiên, theo Fast Company, Uniqul cho biết dữ liệu được bảo bảo vệ bởi mã hõa “cấp quân sự”.

Uniqul đã trải qua nhiều cấu trúc phí khác nhau và cho phép người sử dụng thanh toán với PayPal hoặc các thẻ tín dụng thông thường. Các kế hoạch thanh toán được chia theo khoảng cách. Cấp đầu tiên được cho là mất 1 USD/tháng và mở rộng phạm vi đến 1 – 2 km từ một điểm người sử dụng chọn. Cấp thứ 2 tốn hơn 9 USD/tháng và bao phủ phạm vi lớn hơn. Các cấp độ phụ thuốc vào số terminal ở khu vực và phạm vi rộng hơn thì giá cao hơn. Dịch vụ dự định sẽ tung ra ở Helsinki sớm.

Nếu công nghệ nhận dạng khuôn mặt chưa có, thì có thể sử dụng công nghệ nhận dạng vân tay hiện đã phổ cập.

Mô hình kinh doanh dịch vụ trực tuyến Internet thân thiện “Vườn tri thức VNPT"

1. Giới thiệu

Kinh doanh thông qua những tiện ích của Internet, CNTT đang là mô hình được áp dụng rộng rãi tại rất nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, việc kinh doanh này đang trong giai đoạn khởi đầu, đa phần tập trung ở những thành phố lớn, khu đông dân cư. Còn tại các vùng nông thôn hay miền núi, việc đưa Internet đến với người dân vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người,v.v. thực sự hết sức khó khăndo dân trí thấp, thói quen, tập quán và sự e ngại khi tiếp cận với máy tính. Kinh doanh Internet vẫn chủ yếu là các cửa hàng, đại lý Game online nhỏ lẻ, hiệu quả kinh tế không cao, không ứng dụng được Internet vào thương mại điện tử.

Mô hình kinh doanh dịch vụ Internet thân thiện “Vườn Tri thức VNPT” đã được triển khai để tối ưu hoá lợi nhuận, mở rộng mạng lưới kinh doanh viễn thông, CNTT và nhất là các tiện ích của Internet, giới thiệu trực tiếp thông qua hệ thống thương mại điện tử các sản phẩm trưyền thống, đặc trưng địa phương ra các nước trong khu vực và trên thế giới. Với ý tưởng tạo ra một môi trường sinh hoạt CNTT, tiếp cận Internet cho giới trẻ tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng và phổ cập CNTT vào đời sống như các chương trình cộng ích Bộ Thông tin và Truyền thông, các hoạt động phổ cập tin học quốc tế của Quỹ Melinda - Bill Gates vừa đạt mục tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh Internet.

Điểm mấu chốt là mô hình đã tạo ra sự gần gũi với môi trường và văn hoá người dân các vùng miền khác nhau, kích thích người dùng tham gia sử dụng Internet hỗ trợ trực tiếp cho đời sống lao động và học tập, vì họ có thể biết được giá cả các loại hàng hoá, địa chỉ mua bán, kiến thức canh nông, thông tin, sức khoẻ, v.v.. Mô hình cũng đã kết hợp kinh doanh qua mạng các sản phẩm dịch vụ viễn thông, CNTT, sản phẩm làng nghề truyền thống, đặc sản địa phương với việc quản lý mềm dẻo của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội như Đoàn thanh niên, Hội nông dân,..

2. Tình hình triển khai mô hình “Vườn tri thức VNPT”

Mô hình “Vườn tri thức VNPT” đã được triển khai giai đoạn 1 với mục tiêu chủ yếu phục vụ công ích, phổ cập tin học cho đối tượng là thanh thiếu niên nông thôn và nhân dân vùng sâu, vùng xa. Sau khi triển khai giai đoạn 2 với mục đích kinh doanh hiệu quả các sản phẩm dịch vụ viễn thông và CNTT, mô hình đã phát huy khả năng kinh doanh biến Vườn tri thức VNPT giống như một chuỗi hệ thống liên hoàn gồm Siêu thị Viễn thông, Trung tâm Internet cộng đồng, Khu bày bán sản phẩm làng nghề, khuôn viên giao lưu văn hoá Wifi. Mô hình đã tạo ra sự gần gũi với phong tục, tập quán của người dân địa phương, khắc phục những rào cản trong tâm lý, thói quen khi tham gia sử dụng dịch vụ CNTT.

Vườn tri thức VNPT đã được triển khai thí điểm tại các vùng miền khác nhau cho các đối tượng khác nhau nhằm khảo sát, nghiên cứu định tính và định lượng, quan sát nhu cầu và sở thích khi sử dụng máy tính cũng như Internet của các đối tượng khách hàng để phục vụ đời sống, lao động, học tập của người dân địa phương. Qua nghiên cứu các mô hình đã triển khai, rút kinh nghiệm và xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh phát huy hiệu quả kinh tế của “Vườn tri thức VNPT”, cụ thể như sau:

+ Năm 2006: Nhà Thiếu nhi - Tỉnh đoàn Ninh Thuận: được lấy tên là “Vườn tri thức” cho đối tượng thanh thiếu nhi bao gồm 13 máy tính, tủ sách, hệ thống mạng,...

+ Năm 2007: Điểm BĐVHX Hồng Khê (Bình Giang - Hải Dương): được đặt tên là “Vườn tri thức trẻ” tại với mục tiêu phát huy những tiện ích của điểm BĐVHX, tạo ra môi trường tiếp cận Internet cho thanh thiếu niên (TTN) nông thôn và tăng cường hình ảnh VNPT đối với cộng đồng, xã hội: VTT quy định trong tuần có hai buổi truy cập Internet miễn phí vào sáng thứ 3 và chiều thứ 5 hàng tuần, các buổi còn lại thu cước phí, kinh doanh bước đầu thu đủ bù chi. Tổng trị giá 140.000.000đ.

+ Năm 2008: “Vườn tri thức VNPT” được đặt tên thống nhất đã triển khai tại Trung đoàn E952 – Hải quân vùng 1, Đảo Thanh niên Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) mà đối tượng phục vụ là bộ đội, chiến sĩ trên đảo: 04 máy tính, 01 máy in, hệ thống Hub, cáp mạng, webcam, tủ sách khoa học, các thiết bị như TV, đầu ĐV,.. miễn phí truy cập Internet băng thông ADSL 1 tháng, tổng giá trị 60.000.000đ

+ Năm 2008: Tại trường tiểu học An Phước (Đà Nẵng), việc xây dựng Vườn tập trung vào đối tượng là học sinh, TTN các xã lân cận. Từ tháng 6/2009 đến nay, đã có 4238 lượt TTN, học sinh và giáo viên truy cập Internet và đọc sách tại đây. Vườn còn tổ chức đào tạo tin học cho 50 lượt cán bộ Đoàn xã; Tổng trị giá 100.000.000đ.

+ Năm 2009: Còn tại Bến Tre, với sự đầu tư 40 máy tính của VNPT Bến Tre và nhiều đầu sách, báo của Tỉnh Đoàn có tổng trị giá 400.000.000đ. Không chỉ ĐVTN ở đây được tiếp cận Internet phục vụ cho học tập mà hoạt động kinh doanh tại đây cũng rất có hiệu quả (từ tháng 10/2009 đến nay, doanh thu tại Vườn tri thức do Đoàn Thanh niên VNPT Bến tre thực hiện từ dịch vụ bán hàng đạt trên 1 tỉ đồng). Ngoài ra, Vườn còn đào tạo được 7 khóa học cho Công an tỉnh, 1 lớp bằng A tin học cho cán bộ đoàn và 1 lớp học cơ bản cho thanh niên nông thôn.

+ Năm 2009: Trung đoàn Cảnh sát cơ động tại miền Trung - Tây Nguyên (E25) thuộc Tổng cục Cảnh sát đóng tại Gia Lai, cán bộ chiến sĩ ở đây cũng trở thành đối tượng chính được tiếp cận với Internet trong khuôn viên truy cập mạng của Vườn tri thức VNPT rộng 300m2, có đủ vườn hoa, ghế đá, cây cảnh … và 10 bộ máy tính có kết nối Internet, 01 máy in, webcam…Bên cạnh đó là Tủ sách tri thức của VNPT với hàng trăm đầu sách báo khác nhau để các cán bộ chiến sĩ đọc, tìm hiểu sau những giờ trực vất vả. Trong vòng 3 tháng đầu sau khai trương, cán bộ chiến sĩ và bà con nhân dân được miễn phí truy cập Internet 100% và được miễn 50% trong 6 tháng tiếp theo. Huy động them nguồn lực thừ Ban thanh niên Tổng cục Cảnh sát, BIDV, CAVICO: tổng trị giá khoảng 146.000.000đ

+ Thư viện Huyện Côn Đảo (Vũng Tàu) cho các đối tượng là thanh thiếu nhi, nhân dân trên đảo. Tổng trị giá 170.000.000đ.

“Vườn tri thức VNPT” đã được xã hội ghi nhận về những hữu ích của công trình về việc hỗ trợ cộng đồng xã hội trong việc ứng dụng Internet vào lao động và học tập, rút ngắn khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn. Tuy vậy, các “Vườn tri thức VNPT” hiện tại đã triển khai mới chỉ tập trung tăng cường hình ảnh thương hiệu VNPT và phát huy tính tiện ích của các điểm Bưu điện văn hóa xã, trường học, doanh trại quân đội, công an, khuôn viên tỉnh đoàn, v.v. chưa kết hợp được việc kinh doanh dịch vụ, tạo doanh thu chủ yếu từ dịch vụ băng rộng cũng như các dịch vụ Bưu chính, Viễn thông và CNTT khác. Do đó, cũng khó khăn khi bố trí nguồn chi phí, nguồn nhân lực sửa chữa, bảo dưỡng và duy trì hoạt động của Vườn tri thức. Vì vậy, tại một số điểm không mang lại kết quả như mong muốn, chỉ mang tính phục vụ cộng đồng, rất khó khăn trong việc duy trì và quản lý lâu dài. Việc kết hợp với đoàn thanh niên địa phương hay trường học cũng chỉ duy trì được thời gian từ 3 đến 4 năm, sau đó thiết bị hỏng dần và bộ phận quản lý không có nguồn để tu sửa, bảo dưỡng hệ thống máy tính.

3. “Vườn tri thức VNPT” tại Hưng Yên - Mô hình kinh doanh dịch vụ Internet thân thiện

Từ những kinh nghiệm đó, “Vườn tri thức VNPT” tại Hưng Yên được thiết kế là một công trình kinh doanh kết hợp công ích hoàn chỉnh, đầy đủ các hạng mục để tạo ra nguồn thu và bộ phận quản lý lâu dài. “Vườn tri thức VNPT” được xây dựng trong khuôn viên VNPT Hưng Yên, có diện tích 500m2 bao gồm cả Trung tâm mạng máy tính với 10 bộ máy tính được nối mạng Internet (đầu tư giai đoạn 1), máy in, máy chiếu, webcam….; Showroom trưng bày - bán hàng dịch vụ bưu chính viễn thông và khuôn viên truy cập mạng wifi bao gồm vườn hoa cây xanh. Sau khi chính thức đưa vào hoạt động, Vườn tri thức là địa chỉ sinh hoạt cộng đồng hữu ích cho cho giới trẻ, là không gian tri thức xanh cho thanh niên nông thôn, kết hợp việc nâng cao kiến thức kinh tế- xã hội trên môi trường Internet  với việc ứng dụng ngày một hiệu quả hơn công nghệ thông tin trong nghiên cứu, học tập và tạo ra các giá trị hữu ích cho xã hội.

“Vườn tri thức VNPT” tại Hưng Yên (trị giá đầu tư thiết bị 750 triệu đồng) được đánh giá là một mô hình của tương lai, đưa Internet đến vùng sâu, vùng xa có tính bền vững cao bằng việc thiết kế sáng tạo “phần hồn” của các phòng máy tính cộng đồng chính là người quản lý, quy trình vận hành và luồng không khí trẻ trung. Đặc biệt là tạo nguồn thu cho bộ phận quản lý là tổ chức Đoàn thanh niên và các cán bộ đoàn. Không gian gồm 4 phần: Siêu thị Viễn thông, Phòng Internet cộng đồng, Không gian sản phẩm làng nghề và Khuôn viên giao lưu Wifi.

Phòng Internet cộng đồng

Được thiết kế theo phòng giao dịch chuẩn của VNPT về màu sắc và nhận diện thương hiệu có màu chủ đạo là màu xanh VNPT, không gian trong phòng gồm 3 phần, được phân biệt bằng độ cao mặt sàn và giá trị sử dụng của từng phần cụ thể: Trưng bày, trình chiếu các sản phẩm dịch vụ của VNPT, có ý nghĩa như điểm giao dịch trưng bày, tiếp nhận các sản phẩm. dịch vụ VNPT; Nhận là điểm quảng bá, giới thiệu sản phẩm; Ngày bình thường phòng có sử dụng nhạc cổ điển, một số tác phẩm âm nhạc kinh điển để tạo không khí thanh bình cho những người đến sử dụng dịch vụ.

Phòng Internet cộng đồng

 - Tốc độ băng thông cao với mục đích nghiên cứu, học tập và giải trí.

- Đào tạo tin học văn phòng, công nghệ thông tin theo yêu cầu của tỉnh Đoàn, Hội Nông dân có quy mô nhỏ, có thể đào tạo theo cụm hoặc theo huyện, trong đó Đoàn VNPT Hưng Yên chịu trách nhiệm đào tạo, các chi phí về tài liệu cho học viên. (Định kỳ quý 1 lần).

- Đào tạo cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu.

-Thông qua Internet, vườn tri thức VNPT Hưng Yên là điểm để thanh, thiếu nhi trong tỉnh đến học tập nghiên cứu và giải trí:

-Tủ sách Thanh niên: Lưu trữ các tài liệu liên quan đến công tác Đoàn và các tài liệu khác do thanh niên ủng hộ tạo điều kiện để đoàn viên, TTN đến tra cứu tìm đọc và khai thác kiến thực, tư liệu phục vụ công tác chuyên môn.

- Tổ chức các buổi giao lưu, toạ đàm, sinh hoạt chuyên đề, tổ chức hội họp của thanh niên.

+ 30% máy tính phục vụ công tác học tập, nghiên cứu miễn phí.

+ 70% máy tính truy cập còn lại sử dụng vào mục đích giải trí thu phí theo quy định hiện hành của VNPT Hưng Yên để đủ chi phí trang trải cho các khoản thuê nhân công, các chi phí khác luôn đảm bảo hiệu quả khai thác Vườn Tri thức và có doanh thu như một điểm giao dịch của VNPT Hưng Yên.

Không gian sản phẩm làng nghề (Youth Cafe)

-   Thông qua việc trưng bày các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc sản làng nghề địa phương, có niêm yết giá, nếu khách hàng có nhu cầu, có thể bán và hưởng tỷ lệ phần trăm hoa hồng.

-   Sử dụng Website: vuontrithuc.com để giới thiệu sản phẩm và bán hàng qua mạng.

-   Kinh doanh trà thảo dược, café, giải khát.

Không gian sản phẩm làng nghề

Khuôn viên giao lưu Wifi

-   Thiết kế kiểu sân vườn treo, có quầy bar, phục vụ café, giải khát nhẹ, có công trình vệ sinh cộng cộng, trong đó có giàn hoa phong lan, một số cây cảnh, hòn non bộ, một số cây to toả bóng mát, bên ngoài giáp hành lang Quảng trường được tôn cao nền, lợp mái là vị trí để công nhân viên chức, thanh niên thư giãn có thể truy cập Wifi,…

-   Đây cũng là điểm tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao của thanh thiếu niên trong tỉnh.

-   Vườn Tri thức VNPT tại Hưng Yên, không chỉ là điểm học tập, sinh hoạt văn hoá tinh thần thông qua giao diện Internet của thanh thiếu nhi trong tỉnh, mà còn được tổ chức thành lập Tổng đại lý để kết hợp phát triển dịch vụ VNPT với việc tăng thêm nguồn thu cho các cán bộ Đoàn, gây quỹ Đoàn tại địa phương. Tại “Vườn tri thức” sẽ được tổ chức thường xuyên các hoạt động giao lưu thanh niên, phổ cập tin học và Internet, đào tạo từ xa, tôn vinh và trao tặng các suất học bổng khuyến học “VNPT chắp cánh tài năng Việt” cho các em học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn, học giỏi tại địa bàn tỉnh Hưng Yên.

4. Kết quả triển khai

Tính đến thời điểm hiện nay, “Vườn tri thức VNPT” tại Hưng Yên do Trung tâm dịch vụ khách hàng và Đoàn thanh niên VNPT Hưng Yên quản lý đã có doanh thu bán hàng cho VNPT Hưng Yên khoảng 500 triệu đồng /tháng, phát triển bình quân mỗi ngày 20 đến 50 dịch vụ bưu chính viễn thông các loại; kinh doanh thương mại như máy tính, điện thoại, thiết bị viễn thông,.. Ngoài ra, Ban quản lý còn tự cân đối thu chi các khoản thuê nhân công, bảo dưỡng thiết bị, tái đầu tư, mở rộng các hoạt động tổ chức sự kiện, cho thuê địa điểm đào tạo tin học, game online, v.v..

Mô hình “Vườn tri thức VNPT” đã được cộng đồng CNTT thế giới biết đến thông qua Diễn đàn CNTT thế giới WITFOR 2009, năm 2010 cùng với chương trình “Một triệu giờ đồng hành” được Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam bình chọn là một trong 10 sự kiện của tuổi trẻ cả nước. Các cơ quan truyền thông như Báo Lao Động, Báo Nhân Dân, Báo Bưu Điện, Báo Điện tử Vnmedia, Báo Tiền Phong, Báo Thanh Niên... đã đánh giá: “Vườn tri thức VNPT” tại Hưng Yên khẳng định tính bền vững của mô hình phổ cập tin học và Internet cho các tầng lớp nhân dân vùng sâu, vùng xa, thực hiện chủ trương của Chính phủ sớm đưa nước ta trở thành nước mạnh về CNTT trên thế giới.

5. Kết luận

Việc triển khai mô hình kinh doanh Internet thân thiện Vườn tri thức VNPT rất khả thi cho các địa phương mới tiếp cận với CNTT và chuẩn bị ứng dụng rộng rãi thương mại điện tử trong thời gian tới. Để phát huy tính bền vững và hiệu quả, các doanh nghiệp Viễn thông và CNTT cần kết hợp chính sách công ích của các sở, ban, ngành địa phương, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị đoàn thể để tiết kiệm tối đa chi chí xây dựng và chi phí quản lý và thuê nhân công bằng việc thiết lập “Vườn tri thức VNPT” như một Tổng đại lý uỷ quyền mà thành viên chính là các cấp cán bộ đoàn thể, chính trị-xã hội.

Nguyễn Đồng Long

Tài liệu tham khảo

[1]. Trương Đình Chiến, Sách Quản trị kênh phân phối”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010.

[2. Trần Thị Ngọc Trang, Trần Văn Thi, Sách “Quản trị kênh phân phối”, NXB Thống kê.

[3]. Lữ Ý Nhi, Bài viết “Kênh phân phối siêu thị”,  Báo Doanh nhân Sài Gòn,  số 104 tháng 8 năm 2010.

[4]. Thanh Huyền, “Chợ truyền thống - kênh phân phối hàng Việt hiệu quả”,  Báo Hà Nội Mới Online, ngày 8/5/2013.

[5]. Philip Kotler, Quản Trị Marketing, NXB Lao động - Xã hội, 2008.

[6]. Tạp chí Công nghệ Thông tin & Truyền thông số tháng 8/2011.

[7]. Tuần tin VNPT số 159, 160, 161 phát hành ngày 15/8/2011 đến 4/9/2011.

[8]. Tạp chí Doanh nhân & Pháp luật các sô 25, 27 ra ngày 5/7/2011 và 20/7/2011.

[9]. http://www.vnpt.vn

[10]. http://www.vuontrithuc.com

6 nhóm khách hàng sử dụng Internet và di động cần chinh phục

(ICTPress) - Tính đến quý 1 năm 2013, thế giới đã có 1,2 tỷ thuê bao smartphone và dự kiến sẽ có 4,5 tỉ thuê bao smartphone vào năm 2018.

Bộ phận nghiên cứu khách hàng của Ericsson (ConsumerLab) đã nghiên cứu và phân khúc 6 nhóm khách hàng sử dụng Internet và Di động để giúp các nhà cung cấp hiểu từng nhóm khách hàng, nhằm cung cấp các dịch vụ phù hợp và làm hài lòng họ nhất.

3 nét nổi bật từ nghiên cứu này cho thấy: việc được trải nghiệm trực tuyến là rất quan trọng nhất là khi smartphone đã đi vào cuộc sống.

Có 4 nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới trải nghiệm của khách hàng là hiệu năng của mạng, giá cả, tương tác giữa người dùng và nhà cung cấp, và loại thiết bị. Các nhà khai thác nên quảng bá cho các yếu tố khác chứ không chỉ chú trọng vào giá.

6 nhóm khách hàng dưới đây được phân khúc dựa trên sự quan tâm của họ đối với 4 nhân tố quan trọng nhất nói trên.

  1. Nhóm 1 - Performance Seekers (“Cần nhất là chất lượng”): đặc biệt coi trọng chất lượng mạng và các dịch vụ. Công nghệ đi vào mọi khía cạnh trong cuộc sống của họ. Họ hiểu rõ giá trị của công nghệ và đòi hỏi một dịch vụ Internet di động nhanh và ổn định.

  2. Nhóm 2 - Devicers (“Thiết bị sành điệu”): Nhóm khách hàng coi thiết bị cầm tay không chỉ là phương tiện để liên lạc mà là sử thể hiện hình ảnh, lối sống và đẳng cấp xã hội. Họ cần các nhà mạng cung cấp loại thiết bị ưng ý nhanh nhất cho họ.
  3. Nhóm 3 - VIP: Nhóm khách hàng muốn được đối xử đặc biệt mọi lúc. Họ sẵn sàng trả chi phí dịch vụ cao miễn là luôn nhận được sự ưu tiên.

  4. Nhóm 4 - Cost Cutters (“Giảm chi phí”): Nhóm khách hàng luôn tìm kiếm mức giá thấp, không chấp nhận việc phát sinh chi phí và chỉ cần những dịch vụ cơ bản nhất đáp ứng đúng nhu cầu của họ.

  5. Nhóm 5 - Curious novices (“Thích khám phá”): Nhóm khách hàng luôn tìm kiếm sự gợi ý và đề cao sự hỗ trợ từ nhà mạng. Nhóm khách hàng này muốn gia nhập xu hướng mới trong liên lạc kết nối nhưng chưa rõ phải làm thế nào. Họ cần những sự hỗ trợ kỹ thuật, cảm giác cởi mở thân thiện khi được tư vấn
  6. Nhóm 6 - Control Seekers (“Thích kiểm soát”): Nhóm khách hàng muốn kiểm soát được chi phí và lưu lượng họ sử dụng dịch vụ thông qua các gói dịch vụ. Họ thường sử dụng các dịch vụ trả trước.

Qua đây có thể cơ hội dành cho các nhà khai thác viễn thông. Nhà khai thác cần cung cấp cho nhóm khách hàng “Performance Seekers” những cách có thể đánh giá được chất lượng mạng. Nhóm Curious Novices sẽ gắn bó với nhà mạng luôn có một người hỗ trợ cho họ các vấn đề về kỹ thuật nếu có. Và nhóm Control Seekers sẽ cần được đảm bảo và cho quyền được trả lại những dịch vụ mà không đáp ứng được mong muốn của họ.

Minh Anh

LTE làm tăng đột biến doanh thu trên thuê bao di động

(ICTPress) - “Có một số liệu thống kê ấn tượng về hành vi của người sử dụng. Theo các nhà mạng viễn thông Hàn Quốc, lưu lượng LTE tăng lên liên tục trong khi 3G giảm xuống”.

Hội thảo quốc tế được Cục Tần số Vô tuyến điện tổ chức thường niên và một trong những hoạt động kỷ niệm 20 năm thành lập Cục (1993 - 2013)

Đây là thông tin được bà Hyounhee Koo, Kỹ sư cấp cao của Samsung Electronics cho biết tại Hội thảo quốc tế “Quản lý tần số cho sự phát triển của hạ tầng thông tin hiện đại” được Cục Tần số Vô tuyến điện, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức sáng nay 5/6 tại Hà Nội.

“Tỷ lệ dữ liệu trung bình trên mỗi thuê bao LTE liên tục tăng, trong khi 3G gần như không tăng và có xu thế giảm. Các thuê bao ở Hàn Quốc khi đã có thiết bị có khả năng LTE thì họ thích sử dụng dữ liệu, các dịch vụ dữ liệu trên thiết bị đầu cuối của họ. Còn các các thiết bị chỉ có khả năng 3G thì mức độ sử dụng dữ liệu không tăng mà giảm đi”, bà Hyounhee Koo cho biết.

Bà Hyounhee Koo cho biết ngay cả bà không sử dụng truy cập dịch vụ di động Internet trên 3G nhiều vì không muốn chờ, kể cả chờ 20 - 30 giây. LTE đã giải quyết độ trễ tốt và do vậy người sử dụng có thể trải nghiệm trên smartphone như trên máy tính.

Sự gia tăng sử dụng dữ liệu LTE có mang lại lợi nhuận cho nhà mạng hay không?

Dung lượng LTE không phải là vô hạn mà trên thực tế giới hạn. Nhưng với công ty LG U+ sau khi triển khai LTE vào quý I năm 2012 thì doanh thu trung bình trên thuê bao (ARPU) của nhà mạng này đã tăng đột biến, trong khi hai nhà mạng SKT và KT không cung cấp dịch vụ LTE thì ARPU tăng chậm. Nhưng sau khi cả SK, KT triển khai LTE vào tháng 6 và tháng 12/2012 thì ARPU cũng tăng.

LTE làm tăng doanh thu cho nhà mạng

ARPU của thuê bao LTE Hàn Quốc quý IV năm 2012 là 48 won (KRW), trong khi ARPU của 3G là 30 won và của điện thoại thường là 16 won.

Hiện tại tổng thuê bao LTE của Hàn Quốc là 13 triệu, chiếm 24% trong tổng số 54 triệu thuê bao di động.

Các thuê bao chuyển sang LTE

Trên mạng LTE, dịch vụ nào được sử dụng nhiều nhất? Bà Hyounhee Koo cho biết có 3 dịch vụ mà thuê bao LTE Hàn Quốc sử dụng nhiều nhất là: Kakao talk, dịch vụ nhắn tin miễn phí, đa dạng cung cấp với thoại miễn phí, chơi game, mua hàng giá rẻ, nhận coupon và truy nhập Internet miễn phí 51 phút trong tổng số 90 phút/ngày (tương đương 35 lần mở máy/ngày); YouTube, nhiều người Hàn Quốc xem Youtube trên di động nhiều hơn bất cứ nước nào khác, lưu lượng di động chiếm 20% tổng lưu lượng trên You Tube của Hàn Quốc và dịch vụ Melon là cổng âm nhạc có tới 17 triệu người sử dụng, trong đó 1,3 triệu thuê bao trả trước.

HM