Viễn thông
LiFi - Kết nối của tương lai và những điều cần biết
Submitted by nlphuong on Tue, 08/12/2015 - 06:45LiFi là kết nối không dây mới, có tốc độ nhanh gấp 100 lần so với WiFi truyền thống.
LiFi là kết nối không dây mới, có tốc độ nhanh gấp 100 lần so với WiFi truyền thống.
![]() |
LiFi là gì?
LiFi là một công nghệ giao tiếp không dây mới, được phát minh và cải tiến bởi Giáo sư Harald Hass tại Đại học Edinburgh, Scotland vào năm 2011.
Về cơ bản, LiFi có khá nhiều điểm tương đồng với WiFi truyền thống, tuy nhiên thay vì sử dụng sóng Radio thì LiFi sử dụng ánh sáng từ bóng LED bán dẫn để gửi và nhận dữ liệu. Theo như thử nghiệm hồi đầu năm trong phòng thí nghiệm với các điều kiện tiêu chuẩn, LiFi có thể đạt tới tốc độ 228Gbps (~28.5GB/s), có thể nói rằng nó hoàn toàn có khả năng thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sử dụng Internet và cách chúng ta trao đổi dữ liệu trong tương lai.
Vậy, LiFi hoạt động thế nào?
Nói một cách đơn giản, thì LiFi sử dụng các bóng LED nhấp nháy liên tục với tần số cực cao để truyền dữ liệu. Trạng thái tắt – mở của bóng LED có thể xem như tương tự một dãy mã nhị phân với 0 và 1 hay một kiểu mã Morse cơ bản.
Chuyên sâu hơn, công nghệ mà LiFi sử dụng được gọi là Visible Light Communication (VLC- Tạm dịch: Giao tiếp ánh sáng khả kiến), một kiểu giao tiếp sử dụng ánh sáng khả kiến (ánh sáng nhìn thấy) có tần số từ 400-800 terahertz(THz). Vậy, khi kết hợp bóng LED và một bộ cảm biến thu sáng thành 1 con microchip, chúng ta hoàn toàn có thể gửi/nhận dữ liệu qua lại cho nhau.
![]() |
| Sơ đồ miêu tả cách làm việc của LiFi - Nguồn: Internet |
Với việc sử dụng ánh sáng thay cho sóng radio, LiFi có thể đạt tốc độ không tưởng, hứa hẹn sẽ ứng dụng được nhiều trong tương lai không xa. Tuy vậy, LiFi cũng có những nhược điểm nhất định, đó là không thể truyền xuyên tường, hay có thể bị nhiễu ở những nơi có nhiều dải quang phổ khác nhau, hay gặp các vấn đề về phản xạ, ánh xạ..vv
Tương lai kết nối nhanh, bảo mật cao của LiFi
Trong thực tế, LiFi mới được thử nghiệm lần đầu tiên trong môi trường làm việc thông thường tại Tallinn, Estonia vào tuần trước, và truyền được dữ liệu ới tốc độ 1GB/s tức là nhanh gấp khoảng 100 lần so với WiFi hiện tại. Việc thay thế sóng radio bằng ánh sáng đã tăng tốc độ của LiFi lên nhiều lần, tuy nhiên ánh sáng lại bị giới hạn khả năng truyền qua vật cản, đồng nghĩa với việc thông tin của bạn sẽ được bảo mật hoàn toàn sau những bức tường (!).
Trong tương lai, sẽ có thêm nhiều cải tiến, và rất có thể LiFi sẽ trở nên thông dụng như WiFi bây giờ vậy. Nhưng chắc chắn nó sẽ không hoàn toàn thay thế được WiFi, vì những hạn chế nhất định của nó, nên WiFi và LiFi có lẽ sẽ được sử dụng song song, tùy theo những điều kiện nhất định để tối ưu hóa giao tiếp của chúng ta.
Tham khảo: NPR.org, ScienceAlert.com/hanoitv.vn
Tại sao chúng ta luôn cảm thấy điện thoại rung ảo?
Submitted by nlphuong on Wed, 02/12/2015 - 06:25Tại sao chúng ta lại cảm thấy điện thoại rung trong khi thực tế chúng không hề rung?Bài viết dưới đây sẽ lý giải các nghi vấn của bạn.
Tại sao chúng ta lại cảm thấy điện thoại rung trong khi thực tế chúng không hề rung? Bài viết dưới đây sẽ lý giải các nghi vấn của bạn.
Đã bao giờ bạn cảm thấy điện thoại mình rung khi đang làm việc gì đó dù khi lôi điện thoại ra khỏi túi, bạn không thấy gì? Hoặc thậm chí là bạn không mang điện thoại theo nhưng vẫn có cảm giác rung?
Để giải thích, một chuyên gia có tên Michael Rothberg đang công tác tại Trung tâm Y tế Baystate ở Springfield (Mỹ) đã tiến hành cuộc khảo sát. Từ kết quả thu được, ông nhận thấy rằng có tới 70% số người được hỏi từng trải qua cảm giác bị điện thoại đánh lừa.
Theo Rothberg, nguyên nhân là do ảo giác điện thoại rung đã tồn tại sẵn trong nhận thức. Khi phải xử lí nhiều luồng thông tin cùng lúc, bộ não sẽ bị quá tải và cảm giác đó sẽ được khơi lại. Lúc này, não sẽ “chỉ đạo” không chuẩn xác. Cộng thêm việc mong mỏi một cuộc gọi hay tin nhắn nào đó, não sẽ tạo ra ảo giác khiến con người cảm thấy như có điện thoại rung thật.
![]() |
| Hầu như người dùng điện thoại nào cũng gặp phải tình trạng rung ảo |
Bên cạnh đó, tiến sĩ Larry Rosen, tác giả của cuốn sách "iDisorder: Understanding our Obsession with Technology and Overcoming its Hold on Us", đã có một số đề cập về hiện tượng rung động điện thoại ảo trong tác phẩm của mình. Ông lí giải trạng thái lo lắng có thể là nguyên nhân của một số hiện tượng ảo giác về thần kinh trong đó có rung động điện thoại ảo.
Mới đây, khi được tạp chí ComputerWorld hỏi về hiện tượng này ông đã cho biết: "cơ thể của chúng ta luôn luôn chờ đợi để dự đoán bất kì loại tương tác công nghệ nào mà thường xuyên nhất là những tương tác từ điện thoại thông minh". Với một sự lo lắng trước cho những gì có thể xảy ra, nếu chúng ta nhận được bất kì kích thích thần kinh nào ví dụ như quần cọ xát vào da, chúng ta sẽ ngay lập tức tưởng tượng ra: "ồ điện thoại của tôi đang rung".
Rosen nhận thấy rằng điện thoại thông minh và việc suy nghĩ phải thường xuyên kiểm tra chúng đã trở thành một nỗi lo lắng thường trực ở con người. Ông đã xuất bản một nghiên cứu thực tế về vấn đề này để xem người sử dụng lo lắng như thế nào khi không thể kiểm tra được smartphone của họ. Rosen và các đồng nghiệp của ông đã phát hiện ra rằng những người hay lo lắng vì không thể kiểm tra tin nhắn, thông báo từ mạng xã hội trên điện thoại của họ càng có nguy cơ gặp phải các vấn đề như tâm thần, trầm cảm, rối loạn nhân cách khi họ sẵn sàng chống lại xã hội và chỉ yêu bản thân của mình.
Một nghiên cứu khác (thực hiện tại Trung tâm Y tế Baystate ở Springfield, bang Massachusset, Mỹ), sau khi kiểm tra sự phổ biến của hiện tượng này đã đưa ra một giải pháp để đối phó với hiện tượng "rung động điện thoại ảo", đó là họ nhận thấy rằng 75% số người được khảo sát cho biết họ không còn cảm thấy hiện tượng này khi chuyển điện thoại từ chế độ rung sang chế độ sử dụng chuông báo.
Về phía Rosen, ông khuyên những người sử dụng điện thoại nên rời khỏi chúng và đi ra ngoài dạo chơi khoảng 10 phút sau vài giờ làm việc và tập cho mình một thói quen chỉ kiểm tra điện thoại sau một thời gian định trước, ví dụ 15 phút kiểm tra một lần.
Theo phunutoday.vn
“Rừng Ngập Mặn kết nối”: khả năng ứng dụng cho nông nghiệp VN
Submitted by nlphuong on Thu, 19/11/2015 - 16:20(ICTPress) - dự án kết nối rừng ngập mặn đầu tiên trên thế giới cung cấp mọi thông tin theo thời gian thực dựa trên sự kết hợp của di động, Internet of Things, công nghệ Cloud.
(ICTPress) - Trong khuôn khổ ngày Internet Việt Nam với chủ đề ”Internet of Things”, chiều nay 11/9, Ericsson Việt Nam đã trình bày ”IoT và cơ hội cho các nhà khai thác viễn thông”.
![]() |
Nhà khai thác viễn thông truyền thống bán SIM hay chuyển dịch vai trò
Theo Ericsson, Internet of Things đang điễn ra nhanh chóng và mang lại cơ hội rất lớn cho các nhà khai thác viễn thông. Dự kiến tới năm 2020, lĩnh vực Internet of Things (IoT) sẽ mang tới giá trị gia tăng 2.000 tỉ USD. Dự kiến tới năm 2020, thế giới sẽ có 26 tỉ kết nối trong đó 9 tỉ điện thoại di động, 10 tỉ thiết bị điện tử tiêu dùng và 7 tỉ thiết bị M2M (đồng hồ đo thông minh, cảm biến giao thông, các điểm bán hàng kết nối).
Kết nối và mạng di động chính là nền tảng cho sự phát triển của Internet of Things và trong đó có ba thách thức lớn nhất là chi phí thiết bị, thời lượng pin sử dụng, và vùng phủ cho các kết nối trong nhà. Chính IoT sẽ là một phần quan trọng của mạng 5G.
IoT mang lại ảnh hưởng sâu sắc trong tương lai bởi nó mang lại sự kết nối cho mọi đối tượng trên cơ sở những giá trị rất thông minh và có 7 bước quan trọng mà các nhà khai thác viễn thông cần lưu ý. Các nhà khai thác cần chuyển dịch từ vai trò cung cấp kết nối sang cung cấp giá trị, cụ thể là thay vì việc bán SIM và các gói dịch vụ kết nối, cần phải thiết lập những quan hệ trên nền tảng giá trị mang lại cho người dùng, thậm chí có thể tính tới chiến lược sáp nhập hoặc mua lại các công ty khác. Họ nên tham gia vào ngành kinh doanh mới để ứng phó trước nguy cơ giảm doanh thu trung bình trên mỗi kết nối (ARPC), thiết lập các kênh phân phối và bán hàng mới để duy trì quan hệ với khách hàng doanh nghiệp và dành thị phần tại mảng M2M (Machine-to-Machine).
Sử dụng Big Data và Analytics là một cách hiệu quả để có những cơ sở đáng tin cậy cho những quyết định mang tính hệ thống. Sẵn sàng hỗ trợ các ứng dụng IoT đa dạng, bởi tương lai ngoài nhóm ứng dụng mang tính cơ bản thiết yếu trong doanh nghiệp sẽ xuất hiện nhóm ứng dụng mang tính thỏa mãn cá nhân người dùng như cảm ứng cá nhân, thiết bị đeo tay.
Xây dựng mạng lưới với dung lượng và công suất phù hợp đáp ứng các dịch vụ IoT đòi hỏi băng thông lớn hơn và chất lượng dịch vụ cao hơn (như xem phim HD), trong đó có cả khía cạnh đảm bảo các thỏa thuận về roaming quốc tế để người dùng trải nghiệm liên tục mà không bị ảnh hưởng về chuyển dịch địa lý. Và cuối cùng là cần chú trọng tới vấn đề an ninh và tôn trọng tính cá nhân.
”Rừng ngập mặn kết nối”: nâng cao sự bền vững và hiệu quả cho nông nghiệp
Cũng tại hội thảo, ông Phạm Hà Lâm, chuyên gia công nghệ và giải pháp của Ericsson chia sẻ sáng kiến “Rừng Ngập Mặn kết nối” đang triển khai tại Malaysia hoàn toàn có thể áp dụng tại Việt Nam.
Dự án tại Malaysia là dự án kết nối rừng ngập mặn đầu tiên trên thế giới cung cấp mọi thông tin theo thời gian thực dựa trên sự kết hợp của di động, Internet of Things, công nghệ Cloud và hệ thống lập trình và tích hợp của Ericsson. Giải pháp cung cấp thông tin thời gian thực về mức nước, điều kiện đất đai và khí hậu giúp duy trì rừng ngập mặn và điều kiện sống cho các thảm thực vật, động vật sinh sống tại đây.
Tại Malaysia, Ericsson hợp tác với tổ chức phi chính phủ, công ty công nghệ và cộng đồng dân cư ở Selangor để phục hồi và kết nối 10.000 giống cây tới năm 2020. Dự án này có thể nghiên cứu để áp dụng, nhân rộng và phát triển nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Minh Anh
“emoji” trở thành “Từ của năm” 2015
Submitted by nlphuong on Tue, 17/11/2015 - 23:15(ICTPress) - Dùng từ emoji đã trở thành trào lưu.
(ICTPress) - Từ điển Oxford vừa công bố "từ của năm" 2015 là biểu tượng “khuôn mặt với những giọt nước mắt vui mừng” (emoji), trong một đăng tải trên trang blog của mình.
![]() |
Khuôn mặt với những giọt nước mắt vui mừng là biểu tượng được toàn cầu sử dụng nhiều nhất trong năm, và do vậy từ điển này đã lựa chọn là "từ của năm".
![]() |
Bên cạnh đăng tải trên trang blog, từ điển Oxford còn đăng tải trên Twitter thông báo này từ một tài khoản xác thực, khẳng định những lo lắng về sự thật của thông báo.
Từ điển Oxford cho biết đây là lần đầu tiên một "pictograph" (sự thể hiện được tạo thành từ biểu tượng và hình ảnh) trở thành từ của năm, trong khi thẳng thắn mà nói, pictograph không phải là từ mà đúng hơn là các biểu tượng thể hiện các từ ngữ.
Gạt sang một bên khía cạnh công nghệ, Oxford cho biết tổ chức này lựa chọn từ emoji bởi vì nó “phản ánh chính xác những đặc tính, trạng thái và các mối bận tâm của năm 2015”.
Có vẻ như tổ chức từ điển Oxford giống như một tổ chức không lôi cuốn đã cố gắng thu hút giới trẻ, đã có tranh luận nảy lửa về việc chọn emoji là từ của năm. Nhưng có thể thấy rằng từ "emoji" đã được sử dụng trong năm 2015 gấp 3 lần năm 2014 và dùng từ emoji đã trở thành trào lưu. Từ này từng phổ biến trong giới trẻ nhưng nay đã thuộc về tất cả mọi người.
Oxford hiện đang lấy ý kiến bạn đọc trên trang blog của mình về việc lựa chọn từ nào trở thành từ của năm
Năm ngoái, từ điển Oxford chọn từ “vape” là từ của năm 2014.
QM
Thuê bao smartphone đạt 4 tỷ vào năm 2016, vượt thuê bao thường
Submitted by nlphuong on Tue, 17/11/2015 - 20:10(ICTPress) - Ericsson vừa phát hành báo cáo cung cấp những nhận định mới nhất về ngành viễn thông di động năm trong các năm từ nay tới 2021.
(ICTPress) - Ericsson hôm nay (17/11) đã phát hành báo cáo mang tên Ericsson Mobility Report cung cấp những nhận định mới nhất về xu thế chính của ngành viễn thông di động trong các năm từ nay tới 2021.
Mỗi giây có thêm 20 thuê bao băng rộng di động mới được kích hoạt
Báo cáo Ericsson Mobility Report cho biết sự phát triển của thuê bao di động đang thúc đẩy sự tăng trưởng về lưu lượng các dịch vụ dữ liệu. Mỗi giây có thêm 20 thuê bao băng rộng di động mới được kích hoạt.
Tính tới quý 3 năm 2015, số lượng smartphone bán ra chiếm 75% tổng lượng điện thoại di động và tới cuối năm 2015 dự kiến số thuê bao smartphone sẽ khoảng 3,4 tỉ. Dự kiến tới năm 2016, thuê bao smartphone sẽ cán mốc 4 tỉ và khi đó số thuê bao smartphone sẽ nhiều hơn thuê bao đi động thông thường. Tới năm 2021, số thuê bao smartphone sẽ tăng gần gấp đôi so với bây giờ, lên tới 6,4 tỉ thuê bao.
Dự kiến 1 tỉ thuê bao và tới 4,1 tỉ thuê bao LTE vào cuối 2015 và 2021
Báo cáo cho biết LTE đang tăng trưởng một cách nhanh chóng. Tính tới thời điểm này, đã có khoảng 3.700 thiết bị LTE ra đời và 442 mạng LTE thương mại có mặt trên 147 quốc gia tòan cầu. Tính tới quý 3 năm 2015, số thuê bao LTE đã đạt gần 850 triệu thuê bao, dự kiến tới hết năm 2015 sẽ cán đích với số lượng 1 tỉ thuê bao. Chỉ riêng quý 3 năm 2015 đã tăng thêm 120 triệu thuê bao LTE mới. Tới năm 2021, dự kiến sẽ có tới 4,1 tỉ thuê bao LTE. Châu Á - Thái Bình Dương sẽ chiếm tới 50% tổng lượng thuê bao LTE vào thời điểm 2021.
Video sẽ chiếm đa số lưu lượng các dịch vụ về dữ liệu. Dự kiến tới năm 2021, lưu lượng dữ liệu di động sẽ tăng gấp 10 lần so với bây giờ và video sẽ chiếm 70% lưu lượng đó.
150 triệu thuê bao 5G vào năm 2021
Báo cáo cũng cho biết tới năm 2021, mạng 5G sẽ có 150 triệu thuê bao di đông 5G. Trong đó Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Mỹ sẽ là những nước dẫn đầu về số lượng thuê bao di động 5G trên thế giới
Rima Qureshi, Phó chủ tịch cấp cao và Giám đốc chiến lược của Ericsson cho biết “5G không chỉ mang lại những dịch vụ di động với tốc độ cao hơn. 5G thúc đẩy những dịch vụ mới liên quan đến Internet of Things. Ericsson tiến hành thử nghiệm mô hình những tính năng kết nối 5G và phân tích dữ liệu trong lĩnh vực giao thông công cộng nhằm tiết kiệm tài nguyên, giảm ùn tắc và giảm những tác động về môi trường. Trong những năm tới khi 5G dần đi vào thực tế, những tác động của ngành CNTT-TT tới các ngành công nghiệp sẽ trở nên phổ biến.”
![]() |
| Biểu đồ tăng trưởng thuê bao Smartphones ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (2010 – 2021) |
Ericsson Mobility Report là một trong những phân tích hàng đầu về lưu lượng dịch vụ dữ liệu, chung cấp những thông số từ các mạng di động trên tòan cầu. Báo cáo sử dụng những đo đạc thực tế, cùng với những dự đóan nội bộ, những nghiên cứu liên quan để cung cấp tòan cảnh xu thế thị trường và lưu lượng di động đang diễn ra trong xã hội kết nối.
Minh Anh
Cách sử dụng Google Maps khi không có Internet
Submitted by nlphuong on Fri, 13/11/2015 - 07:20(ICTPress) - Google cho phép bạn đi theo các định hướng, khả năng tìm kiếm trên một bản đồ ngoại tuyến...
(ICTPress) - Google vừa chính thức công bố tính năng ngoại tuyến mới cho ứng dụng Bản đồ (Maps), cho phép bản tải về và lưu giữ một phần bản đồ để bạn có thể sử dụng và tìm được ra thậm chí khi bạn không có dữ liệu di động hay Wi-Fi.
Điều này thực sự hữu ích khi bạn đang đi du lịch và không có sóng di động. Tính năng này không hoàn toàn mới. Bạn đã có thể đơn giản là xem một khu vực bản đồ ngoại tuyến trong một lúc, nhưng bây giờ Google cho phép bạn đi theo các định hướng, khả năng tìm kiếm trên một bản đồ ngoại tuyến và thông tin kinh doanh ở địa phương mà bạn đã và đang đến.
Dưới đây là cách sử dụng:
Đầu tiên, bạn tải về ứng dụng Bản đồ. Sau đó tìm một địa điểm như "San Francisco" hay "Tokyo”. Bạn sẽ nhìn thấy nút “Download” (Tải về) xuất hiện cùng với thông tin về hai địa điểm trên.
![]() |
Tiếp theo, Google cho phép cụ thể phần bản đồ nào bạn muốn lưu lại. Bạn chỉ có thể lưu 2500 megabyte/bản đồ, nhưng bạn có thể lưu nhiều bản đồ của cùng một địa điểm.
![]() |
Bạn sẽ được gợi ý đặt tên bàn đồ, và sau đó Googe sẽ cho phép bạn tải về từng khu vực bản đồ. Đây là những gì quá trình tải diễn ra.
![]() |
Bạn có thể tìm thấy khu vực bản đồ bạn cần - cũng như nhiều bản đồ khác bạn đã lưu - bằng cách trượt phải trên ứng dụng hay nhấp vào các đường nằm ngang trên thanh tìm kiếm bản đồ và nhấp vào “Your Places” (các địa điểm của bạn).
![]() |
Google cho phép lưu mỗi bản đồ trong 30 ngày và ứng dụng sẽ tự động chuyển sang chế độ ngoại tuyến nếu bạn đang ở một khu vực không có Internet. Bạn vẫn cón thể tìm kiếm các địa điểm cụ thể trên bản đồ ngoại tuyến và tìm thấy các thông tin như các giờ hoạt động và các đánh giá của khách hàng.
![]() |
... cũng như các định hướng.
![]() |
Và cuối cùng bạn đã có thể khám phá thế giới mà không cần sóng điện thoại.
Mặc dù các tính năng này đang triển khai cho những người sử dụng máy Android, người sử dụng iPhone sẽ phải đợi thêm đôi chút. Google cho biết khả năng này sẽ sớm có trên iOS.
QM (Theo Business Insider)
7 thói quen sử dụng khiến iPhone, iPad nhanh hỏng
Submitted by nlphuong on Mon, 26/10/2015 - 06:55Đôi khi những thói quen tưởng chừng như "vô hại" lại chính là nguyên nhân "tàn phá" khiến iPhone, iPad của bạn nhanh "tã".
Đôi khi những thói quen tưởng chừng như "vô hại" lại chính là nguyên nhân "tàn phá" khiến iPhone, iPad của bạn nhanh "tã".
Dưới đây là 7 thói quen gây hại cho iPhone, iPad hầu như ai cũng mắc:
1. Không tắt điện thoại
Bạn phải tắt điện thoại định kỳ, nếu không pin của iPhone sẽ giảm tuổi thọ rất nhanh. Theo các chuyên gia và theo chính khuyến cáo của Apple, việc để điện thoại bật ở trạng thái chờ cũng sẽ khiến giảm tuổi thọ pin. Bạn có thể cân nhắc sử dụng một chiếc đồng hồ để đặt chuông báo thức, thay vì sử dụng điện thoại làm chuông báo thức như thông thường. Trước khi đi ngủ, bạn có thể tắt hoàn toàn điện thoại để đảm bảo thời lượng pin cho máy.
![]() |
| Tắt nguồn định kỳ để tăng tuổi thọ pin cho iPhone |
2. Luôn bật Wi-Fi, 3G và Bluetooth
Bật wifi, 3G hay Bluetooth mà bạn không dùng tới chỉ khiến iPhone, iPad tốn pin vô ích. Nếu thường xuyên đi đến những nơi không có wifi, bạn nên tắt kết nối này đi để tăng thời lượng pin cho thiết bị của mình, tương tự 3G cũng vậy. Trong trường hợp sử dụng Bluetooth, bạn chỉ nên bật khi cần kết nối với một thiết bị ngoài, thay vì mở kết nối này liên tục.
3. Sạc pin qua đêm
Nhiều người cho rằng việc sạc pin thiết bị qua đêm tiện lợi hơn rất nhiều và có thể thoải mái sử dụng vào hôm sau. Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp hay, vì không tháo sạc sau khi pin đầy sẽ khiến pin nhanh chai và dễ hỏng. Chính vì thế nên sạc vào ban ngày để có thể tháo ngay khi pin đầy. Ngoài ra, người dùng có thể sạc iPhone hay iPad trên các ổ điện thông minh để tự động ngắt điện nhờ chế độ hẹn giờ.
4. Sử dụng iPhone trong thời tiết quá nóng/quá lạnh
iPhone (và rất nhiều các loại thiết bị điện tử khác) thường không thể chịu được các môi trường thời tiết khắc nghiệt. Bạn không nên sử dụng iPhone trong nhiệt độ dưới 0 độ C hoặc trên 35 độ C. Nhiệt độ quá nóng sẽ khiến pin hết rất nhanh và thậm chí còn khiến iPhone ngừng hoạt động. Hãy tránh sử dụng iPhone trong thời tiết quá khắc nghiệt, và nếu buộc phải mang iPhone theo mình trong điều kiện thời tiết này, hãy giữ chúng ở trong túi quần/ví và tránh tiếp xúc trực tiếp với thời tiết.
5. Không sử dụng sạc chính hãng
Sạc chính hãng của Apple hơi đắt nhưng vẫn là một khoản đầu tư xứng đáng. Việc sử dụng sạc "rởm" sẽ làm hỏng iPhone, chưa kể các mẫu sạc rởm cũng đã từng gây ra hỏa hoạn hoặc thậm chí là tai nạn chết người tại Trung Quốc. Sau sự kiện này, Apple đã tiến hành chương trình thu mua sạc nhái để đổi lấy sạc chính hãng tại một số quốc gia.
![]() |
| Sạc nhái từng gây ra nhiều vụ tai nạn kinh hoàng |
6. Không vệ sinh thiết bị
Đồ vật cũng như cơ thể người, cần được vệ sinh mỗi ngày để tăng độ bền cũng như tuổi thọ, chính vì vậy, đối với những ai không bao giờ vệ sinh chiếc điện thoại của mình sẽ làm cho các cổng kết nối bị bụi bám quá nhiều, giảm độ nhạy của kết nối. Không chỉ ảnh hưởng tới máy mà một số nghiên cứu cho thấy màn hình iPhone hay iPad của mình chứa nhiều vi khuẩn hơn cả chiếc bồn cầu, gián tiếp gây hại cho cả chính bạn. Chính vì vậy, Apple khuyến cáo người dùng nên thường xuyên vệ sinh thiết bị của mình.
7. Cầm dọc máy khi quay video
Sai lầm này sẽ không gây ảnh hưởng xấu tới phần cứng của iPhone, nhưng rõ ràng là chẳng ai muốn xem một đoạn video với góc quay dọc cả. Đừng tạo ra những đoạn video mất thẩm mĩ và gây khó chịu cho người xem như vậy.
Theo phunutoday.vn/Khỏe & Đẹp
Người dùng được lợi khi chuyển mạng được giữ số
Submitted by nlphuong on Mon, 19/10/2015 - 08:15Từ tháng 12/2015, khi ba nhà mạng lớn triển khai thử nghiệm Đề án “chuyển mạng, giữ nguyên số”, các nhà mạng sẽ phải nâng cao chất lượng dịch vụ và khách hàng sẽ được hưởng lợi.
Đã từ lâu, nhiều thuê bao điện thoại mặc dù bức xúc vì sóng yếu, nghi bị tính cước gian lận; nghi bị dịch vụ 3G “nuốt tiền” nhưng vẫn không dám thay đổi nhà mạng cung cấp dịch vụ vì ngại phải thay đổi số điện thoại.
Tuy nhiên, từ tháng 12/2015, khi ba nhà mạng lớn triển khai thử nghiệm Đề án “chuyển mạng, giữ nguyên số”, các nhà mạng sẽ phải nâng cao chất lượng dịch vụ và khách hàng sẽ được hưởng lợi.
![]() |
| Chất lượng dịch vụ tốt mới “giữ chân” được thuê bao. |
Phong trào sử dụng mạng xã hội Facebook, Twitter hay các ứng dụng nhắn tin miễn phí như: Zalo, Viber và Whatsapp đang “nở rộ” khiến người dùng điện thoại dùng mạng 3G ngày càng nhiều. Thế nhưng, cùng với sự phát triển đó thì tình trạng khiếu nại tính cước, đặc biệt dịch vụ 3G giữa thuê bao và nhà mạng cũng xảy ra nhiều bất cập.
Mặc dù rất bức xúc về tình trạng cung cấp dịch vụ 3G của nhà mạng MobiFone nhưng chị N.M.Thu vẫn buộc phải dùng dịch vụ do nhà mạng này cung cấp: “Nếu muốn chuyển sang sử dụng dịch vụ 3G của nhà mạng khác thì tôi phải đổi số điện thoại vì theo quy định hiện nay thì chuyển mạng sẽ không được giữ số. Vì số điện thoại để liên lạc công việc thường xuyên nên dù khách hàng có bức xúc về chất lượng dịch vụ thì vẫn rất ngại đổi số”, chị N.M.Thu phân tích.
Tuy nhiên, đại diện Vinastas cũng lo ngại về năng lực hệ thống cơ sở dữ liệu của nhà mạng có đáp ứng được khi cùng một thời điểm sẽ có nhiều khách hàng muốn đổi mạng và chất lượng dịch vụ sau chuyển đổi có đảm bảo hay không.
Trước yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), Viettel, VNPT VinaPhone và MobiFone sẽ chạy thử nghiệm việc chuyển mạng giữ nguyên số từ tháng 12/2015 (chậm 6 tháng so với lộ trình đề ra). Như vậy, dự kiến từ ngày 1/1/2017 sẽ chính thức đưa dịch vụ này vào khai thác thương mại.
|
“Chuyển mạng giữ số là dịch vụ đang rất cần phải triển khai để đáp ứng nhu cầu và quyền lợi chính đáng của người dùng, thúc đẩy cạnh tranh, tăng cường đảm bảo chất lượng dịch vụ giữa các nhà mạng. Cơ quan quản lý và doanh nghiệp đã có được hình dung khá rõ về quy trình khi một thuê bao chuyển mạng sẽ như thế nào, ít nhất là về mặt kỹ thuật”.
Thứ trưởng Bộ TT&TT Phạm Hồng Hải .
|
Đề cập về năng lực cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ông Nguyễn Phong Nhã, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông cho biết: Cục sắp hoàn tất việc xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung tại Trung tâm mạng Quốc gia để đưa vào vận hành. Đến tháng 12, các doanh nghiệp di động có thể kết nối kỹ thuật về Cục Viễn thông để áp dụng chính sách chuyển mạng giữ nguyên số. “Năng lực hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung phục vụ cho chính sách chuyển mạng giữ nguyên số có thể đáp ứng cho 4 triệu thuê bao chuyển mạng trong 3 năm và không giới hạn số lần chuyển mạng”, ông Nhã nói.
Bên cạnh đó, Bộ TT&TT có thể thông qua quy định về giá cước hay gọi là phí chuyển mạng để điều chỉnh lượng thuê bao chuyển mạng. Nếu phí này cao thì tất yếu, số lượng người dùng chuyển đổi sẽ ít và ngược lại, nếu muốn khuyến khích, kích cầu cho dịch vụ thì có thể đẩy giá cước xuống thấp trong giai đoạn đầu. Bên cạnh đó, quy định thời gian chuyển cũng là một "van điều tiết" hiệu quả.
Nguồn: Minh Phương (Báo Tin tức)
Người dùng smartphone vào mạng xã hội bao nhiêu thời gian/ngày?
Submitted by nlphuong on Mon, 19/10/2015 - 06:15(ICTPress) - “Trong cộng đồng sử dụng smartphone có sự phân hóa thành 5 nhóm dựa trên thói quen sử dụng”.
(ICTPress) - “Trong cộng đồng sử dụng smartphone có sự phân hóa thành 5 nhóm dựa trên thói quen sử dụng của họ”.
Đây là thông tin được Ericsson ConsumerLab công bố trong một nghiên cứu về xu thế hiện nay trong cách người dùng tương tác với các ứng dụng trên di động và nhận định về tương lai trong ảnh hưởng của công nghệ tới các nhu cầu của người dùng.
Nghiên cứu này được tập trung với phỏng vấn 23.800 người dùng Android smartphone ở Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh và Mỹ, đại diện cho 270 triệu người.
5 nhóm người dùng smartphone
Theo nghiên cứu này, cộng đồng sử dụng smartphone có sự phân hóa thành 5 nhóm dựa trên thói quen sử dụng của họ:
![]() |
Traditionalist - nhóm truyền thống chiếm 9%, sử dụng các hình thức đã có lâu nay như gọi thông thường hoặc nhắn tin SMS và thường là đối tượng từ 50 tuổi trở lên hoặc đã nghỉ hưu.
Tỉ lệ cao nhất là nhóm Casual chiếm 44%, họ là những đã biết và quen dùng mạng xã hội, và các ứng dụng VoIP và đa số là người từ 45 tuổi trở lên.
24% là nhóm Social Worker, những người thường xuyên sử dụng ứng dụng mạng xã hội và không dùng các ứng dụng VoIP và IM nữa, đa số họ là nữ và thường dành 1,5 tiếng mỗi ngày cho mạng xã hội.
Conversationalist chỉ chiếm 12% nhưng là những người dùng cực kỳ thường xuyên ứng dụng VoIP và IM và ít khi sử dụng ứng dụng mạng xã hộ họ thuộc nhóm từ 13 đến 24 tuổi và thường dành trung bình 30 phút mỗi ngày để kết nối bằng các ứng dụng chat.
Dù chỉ chiếm 11%, nhưng nhóm Pioneer Apps Communicators là những người cực kỳ nhanh nhạy với ứng dụng mạng xã hội và các loại ứng dụng kết nối khác. Những người sử dụng này ở trong đội tuổi từ 21 - 30, trung bình dành 2 tiếng một ngày trên mạng xã hội.
Người dùng ngày càng muốn chủ động trong tính năng bảo đảm tính cá nhân đối với các thông tin. Đó là lý do cho thấy gần đây, Snapchat tăng trưởng một cách nhanh chóng trong khi Facebook là giảm đi đối với người dùng lứa tuổi từ 18 đến 34 tại Mỹ. Lý do là bởi những hình ảnh chia sẻ trên Snapchat tự động biến mất trong vòng vài giây, giúp người dùng không phải lo để lại dấu vết gì nếu thông tin nhạy cảm. Trong khi đó Facebook giữ những hình ảnh đó trong nhiều năm sau khi đã đăng tải.
![]() |
FOMO: thuật ngữ mới về nhu cầu của người dùng
Từ “selfie” xuất hiện trong từ điển từ năm 2013 và tới năm 2014 gậy chụp “selfie” xuất hiện phổ biến. 25% những người dùng smartphone ở Mỹ cho biết họ sẵn sàng mua những gói cước không giới hạn chỉ chuyên để chia sẻ hình ảnh. Những ứng dụng như Instagram và Pinterest gần đây đang quảng bá cho văn hóa “nhấn nút và chia sẻ”.
Xuất hiện thêm thuật ngữ mới FOMO (Fear of Missing Out), chỉ cảm giác của người dùng muốn có tính năng không bị bỏ qua, luôn kết nối bất cứ lúc nào, từ bất cứ loại thiết bị nào. Cả ứng dụng Hike và Twitter đều có tính năng cho phép kết nối trong trường hợp người đó đang ở chế độ offline, tự động chuyển thành tin nhắn thông thường SMS mà không phát sinh chi phí mới.
Ông Jan Wassenius, Tổng giám đốc Ericsson Vietnam và Myanmar cho biết: “Năm 2009 là năm đầu tiên thế giới chứng kiến lượng dịch vụ dữ liệu vượt lên dịch vụ thoại và tính tới thời điểm này thì dịch vụ dữ liệu đã nhiều hơn gấp 10 lần. Chính sự phổ biến của smartphone và các ứng dụng dữ liệu trên các máy smartphone đã tạo nên một bước tiến hóa trong hành vi của người dùng và mức độ kỳ vọng của họ.Thuê bao sẽ hài lòng khi các ứng dụng ưa thích của họ hoạt động tốt dù họ đang ở đâu.Điều này cho thấy chất lượng mạng để đáp ứng các dịch vụ dữ liệu là vô cùng quan trọng.”
Minh Anh
70% người dùng smartphone thường xuyên chia sẻ ảnh cá nhân
Submitted by nlphuong on Thu, 08/10/2015 - 09:15(ICTPress) - Ericsson vừa công bố một nghiên cứu về sự chia sẻ thông tin và những quyền lực mới liên quan tới người dùng smartphone đáng chú ý.
(ICTPress) - Ericsson ConsumerLab công bố một nghiên cứu về sự chia sẻ thông tin và những quyền lực mới liên quan tới người dùng smartphone đáng chú ý.
Nghiên cứu này được thực hiện trong quý 2 năm 2015 qua các khảo sát trực tuyến với 5.025 người sử dụng smartphone dòng máy iPhone và Android trong độ tuổi từ 15 tới 69. Những người được phỏng vấn đến từ các thành phố lớn Berlin, Chicago, Jahannesburg, London, Mexico, Moscow, New York, Sao Paulo, Syney và Tokyo, đại diện cho 46 triệu cư dân sống ở đô thị.
70% người dùng smartphone thường xuyên chia sẻ ảnh cá nhân
![]() |
Về phương diện cá nhân, Internet tạo cho mọi người khả năng chia sẻ trải nghiệm mà họ cho là có giá trị với số đông mà họ biết. Theo nghiên cứu của Ericsson ConsumerLab, trên 70% thường xuyên chia sẻ ảnh cá nhân của họ và 34% thường xuyên chia sẻ clip cá nhân của mình. Nhiều người chia sẻ thông tin nhưng không quá cân nhắc hoặc e dè. 69% thừa nhận thói quen chia sẻ thông tin hiện giờ của họ nhiều hơn nhiều so với cách đây hai năm. Độ tò mò của người dùng cũng ngày càng tăng lên. Cứ 4 người dùng smartphone thì có 1 người thường dùng Internet để tra cứu thông tin về người khác.
Bên cạnh những cơ hội mới, người dùng cũng muốn có sự kiểm soát đối với thông tin họ chia sẻ và đối tượng có thể tiếp cận thông tin họ chia sẻ. Cho dù đa số người dùng smartphone sử dụng tính năng “chỉ bạn bè mới được xem” trên mạng xã hội nhưng họ lại không có mức độ kiểm soát tương tự đối với những gì người khác viết về họ. 47% người dùng muốn có một công cụ thông báo khi có một thông tin tiêu cực hoặc không chính xác mà người khác đăng tải về mình trên Internet.
Tuy thói quen chia sẻ trở nên ngày càng phổ biến và người dùng muốn kiểm soát thông tin về mình nhưng lại ít quan tâm đến sự ảnh hưởng của thông tin chia sẻ đối với người khác. 20% những người trẻ dùng smartphone cho biết họ thường đăng tại ảnh hoặc video liên quan tới những người họ không hề quen biết.
Khi được hỏi về việc xử lý ra sao khi bị đăng tại những thông tin tiêu cực, bôi nhọ hoặc sai lệch về bản thân, trong số 63% người dùng smartphone nói rằng họ sẽ liên hệ tới nhà cung cấp dịch vụ thì thực tế chỉ có 30% liên hệ với nhà cung cấp. 45% cho biết họ tự giải quyết các vấn đề của mình và 22% cho rằng họ bỏ qua và không hành động gì. Điều này cho thấy cảm nhận về sự bất lực trong việc kiểm soát các tin đồn. Họ trông đợi các cơ quan hành chính công và các công ty có trách nhiệm về việc này. 50% tin rằng việc bảo vệ các thông tin cá nhân trên Internet cần phải là một ưu tiên mang tính chính trị và pháp lý.
Để hình thành một văn hóa chia sẻ mang tính bền vững là vai trò rất lớn của ngành CNTT. Hai ví dụ trong số đó là việc Apple mã hóa các thông tin trên smartphone một cách tự động. Facebook không chỉ có tính năng để người dùng báo cáo lại trong trường hợp thông tin sai lệch mà còn tự động giảm lượng truyền bá các thông tin mà nhiều người xóa đi trên Facebook.
Báo trực tuyến những hành vi chưa đúng của doanh nghiệp và cơ quan chính quyền
Theo thống kê, người dùng smartphone hình thành thói quen báo cáo những hành vi chưa đúng của các doanh nghiệp (DN) và các cơ quan chính quyền một cách trực tuyến. Hơn 50% số người được phỏng vấn tin rằng việc có thể bày tỏ trực tuyến quan điểm về công ty nào đó giúp cho họ tăng sự ảnh hưởng của mình. 54% tin rằng Internet giúp họ nâng cao khả năng cảnh báo trong xã hội đối diện với các hiện tượng tham nhũng và những hành vi không đúng tại các công ty và tổ chức. Thậm chí 37% tin rằng việc chia sẻ thông tin về một công ty tham nhũng qua các kênh trực tuyến có tác động hơn cả việc báo cảnh sát.
Tuy nhiên bên cạnh những quyền lực mới họ cũng đối diện với những thách thức mới. 46% người dùng smartphone muốn có dịch vụ xác nhận kiểm tra tính trung thực của những thông tin đăng tải trực tuyến. 64% muốn có thể ngăn chặn các thông tin tiêu cực về bản thân họ khi chúng bị lan truyền trên Internet.
Trong vai trò người tiêu dùng, chia sẻ thông tin là cách tạo ảnh hưởng với DN. 40% người dùng smartphone chia sẻ thông tin cá nhân của mình với DN với mong muốn được hưởng chất lượng dịch vụ tốt hơn, mang tính cá nhân hóa hơn và mức chi phí ưu đãi hơn. Đồng thời họ cũng có những mong muốn nhất định về sự minh bạch trong việc thông tin cá nhân của họ được sử dụng ra sao và họ muốn có tính năng lựa chọn không chia sẻ thông tin cá nhân của họ.
Việc chia sẻ thông tin mang tính hai chiều. Mỗi khi đưa ra một quyết định, chúng ta có thói quen tìm kiếm lời khuyên từ người khác và việc đọc những nhận định và đánh giá của người khác trở nên dễ dàng hơn xưa rất nhiều. 50% nói rằng họ luôn tham khảo đánh giá của người khác đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Và những đánh giá này thực sự có ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của một thương hiệu nào đó, đặc biệt những đánh giá không hay thường dễ bị lan truyền. 32% tin rằng việc đăng tải thông tin trên trang mạng xã hội của một công ty nào đó là cách tốt nhất để làm công ty đó phải thay đổi.
Trên phương diện xã hội, việc chia sẻ thông tin cũng tạo nên sự ảnh hưởng đối với các tổ chức công tuy nhiên không mạnh như đối với các DN. 21% người dùng smartphone tin rằng liên hệ với báo chí chính là một cách tốt để gây ảnh hưởng tới các tổ chức công.
Ông Jan Wassenius, Tổng Giám Đốc Ericsson Việt Nam cho biết “Nhìn một cách tổng quát, chia sẻ thông tin trong thời đại Internet và sự phổ biến của Smartphone đã và đang tạo nên những ảnh hưởng mới tới từng cá nhân, các DN và các tổ chức công. Người tiêu dùng ngày nay trông đợi thông tin họ chia sẻ sẽ tạo nên một ảnh hưởng tới xã hội và thế giới. Trên 70% người dùng smartphone chia sẻ ảnh cá nhân của họ một cách đều đặn.”
Minh Anh



















