Syndicate content

Tri thức chuyên ngành

4 xu hướng cho truyền thông, tiếp thị hiện đại

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Chúng ta đã chuyển từ thế giới thông tin khan hiếm sang thế giới quá nhiều thông tin, từ sự làm việc độc lập “ốc đảo” sang làm việc trên mọi loại thiết bị... Theo đó, bạn cần “thấu hiểu” các thông tin đó.

(ICTPress) - Công nghệ đang làm thay đổi lớn đối với mọi mặt của cuộc sống, truyền thông và tiếp thị cũng nằm trong xu hướng đó. Chia sẻ tầm nhìn với báo giới Việt Nam về chuyển đổi kỹ thuật số trong ngành truyền thông và tiếp thị, Tổng giám đốc Truyền thông Microsoft châu Á  Andrew Pickup đã mong muốn truyền những thông điệp mong truyền thông hay chính mỗi doanh nghiệp cần nắm bắt để tạo ra những cơ hội mới.

Tổng giám đốc Truyền thông Microsoft châu Á Andrew Pickup chia sẻ tầm nhìn về Tiếp thị và Truyền thông hiện đại, hướng đến việc chuyển đổi kỹ thuật số trong ngành truyền thông

Là một chuyên gia có 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tiếp thị, ông Andrew Pickup bắt đầu chia sẻ với việc nhắc lại mô hình tiếp thị cũ để các doanh nghiệp (DN), thương hiệu đến với khách hàng: quảng cáo bằng báo in, phát thanh, truyền tuyến và viết những câu chuyện thú vị về các thương hiệu. Mô hình này đã tồn tại từ những năm 1950 cho tới nay. Và công nghệ hiện nay đang làm đột phá và bẻ gãy mô hình này.

Ngày nay mọi người đều có thiết bị di động sử dụng 24/7, 365 ngày và dùng nền tảng mạng xã hội nên không phải tìm hiểu các thương hiệu như trước đây. Hiện nay, đã hình thành những mô hình truyền thông mới thông suốt, khách hàng có thể tìm hiểu thương hiệu từ những người không quen biết. Công ty, người bán liên hệ với người mua dễ dàng mà không phải qua khâu trung gian là các nhà phân phối như trước đây. Khách hàng đi xem một bộ phim, đến nhà hàng, thử nghiệm một chiếc ô tô mà không đợi phải các nhà phân tích, phê bình đánh giá bộ phim… mà có thể tự thể hiện quan điểm của mình và ít bị ảnh hưởng bởi quảng cáo và PR hơn trước. Thế giới đã trở thành một mạng lưới kết nối các thiết bị, con người mà bạn không hề hay biết trước đó nhưng bạn tin tưởng.

Mô hình truyền thông mới

Điều này tạo ra thách thức cho công ty, thương hiệu nhưng cũng tạo ra các cơ hội cơ hội. Và như vậy, chúng ta không phải tiếp xúc khách hàng thụ động như trước đây, mà phải chấp nhận, "nuôi dưỡng" khách hàng tích cực, nhiệt tình, phấn khích và tuyên truyền về sản phẩm này. Chuyển từ mô hình cũ là tĩnh thành mạng lưới mang tính tích cực, động đang làm “phẳng” hóa các cơ quan, cơ cấu tổ chức, thúc đẩy sáng tạo và mang tới các ý tưởng mới.

Chúng ta đã chuyển từ thế giới thông tin khan hiếm sang thế giới quá nhiều thông tin, từ sự làm việc độc lập “ốc đảo” sang làm việc trên mọi loại thiết bị, kích thước thiết bị và khả năng. Theo đó, bạn cần “thấu hiểu” các thông tin đó. Những sản phẩm như Microsoft Azure… sẽ giúp các tổ chức “thấu hiểu” thông tin.

Với những thay đổi tích cực này, 4 cách thức cùng những giải pháp hỗ trợ và các trường hợp điển hình tại quốc tế, khu vực và Việt Nam mà truyền thông và DN có thể tham khảo để nắm bắt cơ hội, ông Pickup chia sẻ:

Cách thức bán và phân phối sản phẩm đã khác trước: Internet và điện toán đám mây (ĐTĐM) đã làm thay đổi cách bán và phân phối sản phẩm… Khách hàng mới có thể sử dụng Office, email... trên mọi thiết bị di động, ở mọi nơi, địa điểm, trên mọi nền tảng. Theo đó, công ty bán sản phẩm có thể tiếp cận những khách hàng mới, cung cấp cho họ sản phẩm miễn phí ban đầu, sau đó tiếp cận, hướng dẫn khách hàng khai thác tối đa sản phẩm đó. Office của Microsoft đã làm được điều này với việc được phân phối trên các nền tảng. Người sử dụng iPhone, iPad, thiết bị Android… đã tải 340 triệu lượt Office về sử dụng.

Lắng nghe khách hàng: Qua mạng xã hội, công ty, DN, hay chính truyền thông có cơ hội lắng nghe khách hàng rất nhiều. Doanh nghiệp có thể lắng nghe khách hàng trên tất cả các nền tảng xã hội và tổng hợp cảm xúc, tình cảm của khách hàng để nắm bắt sự hài long của khách hàng với sản phẩm, dịch vụ hay không.

Công nghệ và ĐTĐM đã thay đổi cách thức truyền thông và tiếp thị: Nếu nhìn vào mô hình trước đây doanh thu chủ yếu từ quảng cáo và nay đã chuyển sang mạng xã hội và thông qua các cơ chế tìm kiếm (search engine). Và khi doanh thu giảm sẽ tạo ra nhiều vấn đề. Hãy nhìn vào ngành báo chí Mỹ, chi phí nhiều nhất là con người. Số người làm trong lĩnh vực báo chí đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, với bất kỳ sự thay đổi nào cũng có cơ hội. Sự thay đổi này giúp cho các tổ chức và ngay chính Microsoft phải mang những câu chuyện trực tiếp tiếp cận khách hàng, để bổ trợ hình thức liên lạc với khách hàng là thông qua nhà báo, cơ quan báo chí.

Sử dụng ĐTĐM giúp khách hàng thành công: Trong 30 năm vừa qua Microsoft đã âm thầm xây dựng hơn 100 trung tâm dữ liệu DC trên toàn thế giới và hỗ trợ 100 thị trường. Bên trong DC sẽ hơn 1 triệu máy chủ. Và bên trong các máy chủ có hơn 30.000 tỷ dữ liệu, hình ảnh thông tin. Microsoft đã đầu tư 15 tỷ USD để xây dựng hơn 100 DC này bởi nhiều dịch vụ Office 365, Azure… 200 dịch vụ khác đều được cung cấp qua các DC này và các DC sẽ giúp, hỗ trợ của khách hàng bằng những nền tảng, giải pháp và dịch vụ đám mây quen thuộc như Office 365, Microsoft Azure, Windows Server, System Center, SQL Server, Dynamics… Microsoft đã và đang đồng hành cùng hơn 85% các công ty thuộc danh sách Fortune 500, tạo ra những mô hình vận hành hiệu quả.

Theo đó, không chỉ DN lớn mà DN và vừa, startups có thể tiếp cận ĐTĐM.  Một công ty khởi nghiệp vài năm trước phải xây dựng hạ tầng để xây dựng dịch vụ… nhưng bây giờ chỉ cần 15 phút và thẻ tín dụng đã có thể truy cập 1 cơ sở hạ tầng DC của Microsoft. Một ví dụ đáng chú ý là Câu lạc bộ bóng đá Real Madrid, đã có hơn 100 giải thưởng, trong đó có 11 lần Vô địch Champion Laguage, là 1 thương hiệu bóng đá. Câu lạc bộ này có 450 triệu cổ động viên trên toàn thế giới, tuy nhiên, sân vận động, 1 trong những sân lớn nhất chỉ chứa được 90.000 người và nếu có 450 triệu fan hâm mộ thì 9,99% không bao giờ có cơ hội "cảm nhận" được sân vận động đó. Làm thế nào để tạo ra được các đại sứ thương hiệu, hỗ trợ cổ động viên, kiếm doanh thu… Công nghệ đang thay đổi tiếp thị, tạo cơ hội cung cấp trải nghiệm cho những sự kiện như thế này. "Và Real Madrid đã hợp tác với Microsoft sử dụng ĐTĐM để đưa các thông tin phỏng vấn cầu thủ, các trận đấu, bình luận,… để truyền tải đến toàn thế giới tới bất kỳ đâu, màn hình nào…", ông Andrew cho biết.

Nói về bộ Microsoft Office 365, nền tảng công cụ năng suất đám mây, ông Andrew Pickup chia sẻ: “Hướng tới mục tiêu thông qua công nghệ, trao quyền cho mỗi người và mỗi tổ chức hiệu quả hơn, bộ Office quen thuộc với hơn 1.2 tỉ người trên hành tinh vẫn đảm trách tốt vai trò này. Dựa trên những trải nghiệm thân thiện của Office, Office 365 dựa trên nền tảng đám mây, hiện kế thừa và tiếp tục là nền tảng phổ cập để người dùng sáng tạo, giao tiếp và cộng tác dễ dàng hơn, phù hợp với mọi phong cách làm việc của xã hội hiện đại”.

Trong thế giới kỹ thuật số mới, đám mây sẽ là nền tảng để các DN mọi quy mô tạo ra tương lai kỹ thuật số của họ. Với một chiến lược phát triển đám mây riêng và đám mây công cộng độc đáo và dịch vụ SaaS (phần mềm như một dịch vụ), Microsoft được công nhận bởi Gartner, hãng tư vấn và nghiên cứu độc lập hàng đầu, là đơn vị duy nhất được lựa chọn đứng đầu trên 17 báo cáo Magic Quadrant của Gartner về xử lý vận hành đám mây của DN, bao gồm vị trí đầu bảng về Dịch vụ hạ tầng điện toán đám mây, dịch vụ lưu trữ trên điện toán đám mây và các dịch vụ nền tảng ứng dụng (Cloud Infrastructure as a Service, Cloud Storage Services và Application Platform as a Service).

Cũng chia sẻ về khả năng hỗ trợ chuyển đổi trong thời đại số, ông Hoàng Minh Chính, chuyên viên Microsoft Azure, Microsoft Việt Nam cho hay, “Trên thực tế, khi các tổ chức và DN chuyển đổi lên đám mây dù nhanh hay chậm, thì những giải pháp của Microsoft vẫn hỗ trợ tốt quá trình chuyển đổi, dù đó là hệ thống truyền thống hay các ứng dụng điện toán đám mây tiên tiến nhất.

“Không chỉ vậy, các giải pháp Microsoft giúp dữ liệu trở nên phong phú hơn nhờ phân tích và đưa ra những thông tin chuyên sâu, hỗ trợ việc tiếp cận được nhiều đối tượng trong thời gian ngắn nhất.  Mục tiêu của Microsoft là đưa lại những dữ liệu chuyên sâu từ siêu dữ liệu đến một tỷ người thông qua những công cụ sử dụng dễ dàng, có khả năng mở rộng và an toàn ở cấp độ DN”, Bà Hoàng Song Nga, Phụ trách giải pháp Đám mây và DN, Microsoft Việt Nam nhấn mạnh trong phần thuyết trình về nền tảng dữ liệu Microsoft, giải pháp được ghi nhận đứng đầu cả về mặt vận hành và tầm nhìn trong bảng báo cáo xếp hạng về ODMS của Gartner (Magic Quadrant for Operational Database Management Systems).

Ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Vietnam Plus chia sẻ những kinh nghiệm trong việc ứng dụng công nghệ tại báo và những khả năng công nghệ đã giúp tờ báo hiện đại, thu hút bạn đọc

Cụ thể hóa những thành công của mô hình triển khai công nghệ để sáng tạo và gặt hái thành công, ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập báo điện tử VietnamPlus đã chia sẻ những sáng kiến của báo trong chặng đường 8 năm. Nói về hợp tác cùng Microsoft, ông Lê Quốc Minh phát biểu: “Một trong những hợp tác điển hình là đi cùng MSN.COM của Microsoft. Đóng góp tâm huyết để cùng xây dựng phiên bản tiếng Việt của MSN, VietnamPlus tự hào vì đã và sẽ tiếp tục mang đến những trải nghiệm tốt hơn, hiện đại hơn cho bạn đọc Việt Nam”.

CMS MSN rất hiện đại, có những công cụ đo đếm, xem xét loại nội dung nào di chuyển vào đâu, bài báo nào được chú ý… có khả năng tích hợp toàn cầu nên rất phù hợp cho truyền thông hiện đại”, ông Minh cho biết thêm.

Minh Anh

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Nghề báo
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
Kinh tế chuyên ngành

Ngành Tài chính đào tạo cán bộ theo chuẩn tin học ICDL

Tóm tắt: 

(ICTPress) - ICDL là chuẩn quốc tế về kỹ năng sử dụng máy tính, là chứng chỉ tin học phổ cập nhất thế giới, được công nhận và sử dụng rộng rãi tại 150 quốc gia, với 41 ngôn ngữ...

(ICTPress) - Khóa học “Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin đạt chuẩn thông tư 03/2014/TT-BTTTT” dành cho hơn 100 cán bộ đang công tác tại các đơn vị thuộc Bộ Tài chính vừa chính thức được khai giảng đầu tháng 12 này. Khóa học được thực hiện bởi sự phối hợp giữa Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính và Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo NetPro (NetPro Academy).

Trường Bồi dưỡng Cán bộ Tài chính là một trong những đơn vị sớm triển khai việc đào tạo Chương trình đào tạo tin học quốc tế ICDL - Kỹ năng sử dụng CNTT đạt chuẩn thông tư 03/2014/TT-BTTTT nhằm chuẩn hóa trình độ CNTT cho đội ngũ cán bộ của ngành. 

Toàn cảnh buổi Khai giảng khóa học ngày 5/12/2016

Chương trình đào tạo theo chuẩn ICDL kéo dài 5 buổi, nội dung đào tạo giúp học viên hệ thống lại toàn bộ 6 kỹ năng tin học văn phòng cơ bản (Cơ bản về CNTT và truyền thông (ICT), cơ bản về mạng trực tuyến, Xử lý văn bản, sử dụng bảng tính, sử dụng trình chiếu, cộng tác trên mạng trực tuyến. Sau khóa học, học viên có đầy đủ các kiến thức để sẵn sàng tham gia kỳ thi lấy chứng chỉ quốc tế ICDL - Chứng chỉ tin học đạt chuẩn Thông tư 03 của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Sau khóa học, các cán bộ này sẽ tham gia kỳ sát hạch để lấy chứng chỉ tin học quốc tế ICDL. 

Toàn cảnh buổi khai giảng lớp 2 ngày 5/12/2016

Chứng chỉ quốc tế  kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin ICDL là chứng chỉ duy nhất được Bộ Thông tin và Truyền thông công nhận phù hợp đầy đủ với yêu cầu của Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT  theo thông tư 03/BTTTT (Theo công văn số: 3712/BTTTT-CNTT, ngày 13/11/2015).

Hiện nay, Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo NetPro (NetPro Academy) là Trung tâm khảo thí ICDL (ATC) duy nhất tại Việt Nam có chức năng khảo thí &  đào tạo cho các Cơ quan nhà nước và các Doanh nghiệp.

ICDL là chuẩn quốc tế về kỹ năng sử dụng máy tính, là chứng chỉ tin học phổ cập nhất thế giới, được công nhận và sử dụng rộng rãi tại 150 quốc gia, với 41 ngôn ngữ, hơn 24.000 trung tâm khảo thí ICDL và trên 14 triệu thí sinh tham dự và hơn 54 triệu bài thi đã được sử dụng.

ICDL là thước đo tiêu chuẩn, đánh giá một cách chuẩn xác và hiệu quả về kỹ năng  sử dụng CNTT của người thi. ICDL còn là thước đo độc lập, khách quan khi được xây dựng không phụ thuộc vào môi trường hay hệ điều hành cụ thể nào. ICDL chính là sự chuẩn hóa kiến thức về CNTT trong việc sử dụng máy tính và Internet một cách có nền tảng, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa để tiến tới việc công nhận lẫn nhau, phục vụ cho việc dịch chuyển lao động giữa các quốc gia.

QA

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Chuyển động ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
CNTT

Thái Lan áp dụng đăng ký SIM bằng công nghệ vân tay

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Các ngân hàng và nhà mạng ngày càng được thúc giục tăng cường các tiêu chuẩn đối với hệ thống nhận thực khách hàng trong nỗ lực ngăn chặn gian lận...

(ICTPress) - Ủy ban Phát thanh và Viễn thông quốc gia Thái Lan (NTBC) đã thông báo các kế hoạch yêu cầu tất cả các nhà mạng nước này giới thiệu một hệ thống ID vân tay trực tuyến để đăng ký SIM di động trả trước và trả sau.

Cơ quan quản lý này đã ra hạn tạm thời cho các nhà mạng để thúc đẩy đăng ký ID vân tay bắt buộc, theo Bangkok Post.

Bắt đầu từ tháng 2/2017, xác thực vân tay sẽ là yêu cầu đối với đăng ký SIM di động ở Thái Lan

NTBC cho biết hệ thống này được thiết kế để tăng tính an ninh khi thực hiện giao dịch ngân hàng di động và giảm rủi ro gian lận khi Thái Lan tiếp tục tiến trình chuyển sang xã hội không tiền mặt.

Khoảng 14 triệu trong số 103 triệu thuê bao di động của Thái Lan đã đang sử dụng các dịch vụ ngân hàng di động, theo NTBC.

Cũng NTBC, trong khi các nhà mạng được yêu cầu triển khai một hệ thống đăng ký vân tay để bổ sung vào các hệ thống đăng ký SIM bắt buộc hiện tại của các nhà mạng. Các nhà mạng sẽ quét vân tay của từng người sử dụng và lưu thông tin trên server cơ sở dữ liệu của NTBC.

Hệ thống vân tay được khoa Kỹ thuật Đại học Kasetsart phát triển và đã trúng thầu cung cấp hệ thống này với trị giá 15 triệu baht (421.000 USD).

Các nhà mạng có thể giảm các chi phí triển khai hệ thống nhờ Quỹ vụ dịch vụ viễn thông công ích, chiếm khoảng 3,5% tổng doanh thu của các nhà mạng.

Các ngân hàng và nhà mạng ngày càng được thúc giục tăng cường các tiêu chuẩn đối với hệ thống nhận thực khách hàng trong nỗ lực ngăn chặn gian lận thông qua các hoạt động ngân hàng di động – gần đây đang là một trong những dịch vụ di động phổ biến nhất.

QM

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Chuyển động ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
Viễn thông

Microsoft SQL Server tiếp tục giữ vị trí số 1 về vận hành

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Đây là năm thứ hai liên tiếp, Microsoft được ghi nhận có điểm số cao nhất về mặt vận hành và tầm nhìn, vượt qua các thương hiệu khác.

Microsoft tiếp tục nắm giữ vị trí số một trong ngành theo bảng báo cáo xếp hạng về ODMS của Gartner (Magic Quadrant for Operational Database Management Systems, Hệ thống Cơ sở Dữ liệu Hoạt động).

Đây là năm thứ hai liên tiếp, Microsoft được ghi nhận có điểm số cao nhất về mặt vận hành và tầm nhìn, vượt qua Oracle và các thương hiệu khác.

Theo Gartner, “Microsoft tiếp tục dẫn đầu thị trường bằng tầm nhìn với các dịch vụ của SQL dành cho IMDBMS, NoSQL (Doc và K-V), hỗ trợ nhiều định dạng đám mây dbPaaS, được xây dựng sẵn các chức năng tiếp cận để phân tích (hỗ trợ HTAP) và hỗ trợ cho di động”.

Báo cáo này phân tích SQL Server 2016 và xem xét tính năng của phiên bản này. Tính năng Stretch Databases (Dàn trải cơ sở dữ liệu) được nhấn mạnh như một phát minh nổi bật. Microsoft đã nhận điểm cao nhất cho các chỉ tiêu: Dễ dàng quản trị, dễ dàng triển khai cài đặt và dễ lập trình. Hơn thế, 80% khách hàng tham chiếu phản hồi rằng, việc nâng cấp lên phiên bản mới dễ dàng hơn hẳn so với suy nghĩ trước đó.

Danh sách khách hàng sử dụng SQL Server trên toàn thế giới được trải rộng trên mọi ngành nghề, từ công nghiệp nặng tới ngành y tế và chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại như ngân hàng và tài chính. Tại châu Á, danh mục các khách hàng lớn sử dụng SQL Server có thể kể đến là:  NTT Docomo, Samsung, LG, Arvato, Xerox, AMD, Aon,…

Điểm mới của bảng phân hạng Gartner năm nay:

Gartner điều chỉnh cách cho điểm Magic Quadrant, chuyển tất cả các nhà cung cấp bên trái, nhằm phản ánh thị trường DBMS đã trở nên đồng nhất và thông dụng hóa. Nhiều tính năng đã trở thành kỳ vọng tiêu chuẩn, và điều này làm tầm nhìn của lãnh đạo Microsoft càng trở nên giá trị hơn. Gartner tin rằng Microsoft đang thực thi những bước tiến đúng (ví dụ đưa SQL Server vào Linux) để đảm bảo tiếp tục tăng trưởng trong thị trường trưởng thành này.

Điểm mạnh của sản phẩm Microsoft

Có trụ sở tại Redmond, Washington, Mỹ, Microsoft xác định thị trường SQL Server  DBMS  là dành cho OPDBMS, cũng như Microsoft Azure SQL Database (một nền tảng Cơ sở dữ liệu như một dịch vụ) và  NoSQL DBMSs Microsoft Azure DocumentDB và Azure Tables.

Nắm giữ tốt thị trường: Bảng phân tích thị phần của Gartner năm 2015 tiếp tục chỉ ra rằng Microsoft có tăng trưởng vượt trội, nắm giữ vị trí số 2 về doanh thu của DBMS (năm thứ 3 liên tục trong hạng mục này). Với sự ra mắt của SQL Server 2016, Microsoft đã công bố việc hỗ trợ cho Linux, bổ sung nền tảng di động để mở rộng tính năng của SQL.

Có tầm nhìn: Microsoft tiếp tục dẫn đầu thị trường bằng tầm nhìn với các dịch vụ của SQL dành cho IMDBMS, NoSQL (Doc và K-V), hỗ trợ nhiều định dạng đám mây dbPaaS, được xây dựng sẵn các chức năng tiếp cận để phân tích (hỗ trợ HTAP) và hỗ trợ cho di động. Hơn thế,   SQL Server 2016 mang lại tính năng Stretch Databases  - làm dàn trải cơ sở dữ liệu tại doanh nghiệp ứng với các phân vùng trên đám mây.

Dễ sử dụng:  Microsoft đã nhận được điểm số cao nhất cho việc dễ dàng quản trị, cài đặt và lập trình. Ngoài ra, hơn 80% các khách hàng sử dụng đều chia sẻ rằng, họ dễ dàng nâng cấp lên phiên bản mới một cách dễ dàng hơn hẳn so với chuẩn bị tâm lý ban đầu.

Để thử nghiệm giải pháp Microsoft SQL Server 2016, các doanh nghiệp và người sử dụng có thể tải về từ địa chỉ:  http://www.microsoft.com/en-us/sqlserver/default.aspx.

QA

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT
Sản phẩm - Dịch vụ

Giải pháp đảm bảo mạng LTE 4G đáp ứng trải nghiệm người dùng

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Với những thách thức đã đặt ra trong LTE và QoE dẫn đến nhu cầu tất yếu phải lựa chọn và sử dụng một giải pháp giám sát mạng backhaul tập trung, dễ dàng triển khai mở rộng trên qui mô lớn.

Yêu cầu về băng thông và hiệu suất sử dụng của mạng LTE cao hơn rất nhiều so với mạng 3G nhằm đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ cũng như QoE (trải nghiệm chất lượng) tốt hơn tới khách hàng.

Lưu lượng tăng trưởng chóng mặt và ngày càng phức tạp cungx đồng nghĩa với việc các nhà mạng di động phải quản lý lưu lượng một cách chặt chẽ và phù hợp hơn đối với từng loại ứng dụng.

Dưới đây là những thách thức đặt ra cho các nhà mạng di động trong việc quản lý hạ tầng mạng Mobile Backhaul, các giải pháp quản lý của các nhà mạng trên thế giới để độc giả có cái nhìn cụ thể hơn trong bối cảnh mạng LTE đang được triển khai.

Những thách thức trong quản lý hạ tầng mạng Mobile Backhaul LTE

 Lưu lượng tăng cao

Lưu lượng di động đang tăng liên tục từ 3,7 lên đến 30,6 TB/tháng trong giai đoạn 2015 - 2020, tương đương tốc độ tăng trưởng kép hằng năm (Compound Annual Growth Rate - CAGR) là 53%, theo số liệu của Cisco VNI. Cách thức truyền thống mà các nhà mạng đưa ra là tăng số lượng các trạm thu phát (cells hoặc sectors) để tăng băng thông. Biện pháp này đến nay đã không còn phù hợp – và đang là một thách thức lớn đối với các nhà mạng khi triển khai nâng cấp mạng lưới: chi phí đầu tư quá lớn mà không thu hồi được lợi nhuận tương xứng, bởi lợi nhuận tính theo đầu người (Average Revenue Per User - ARPU) giữ nguyên hoặc thậm chí có chiều hướng giảm xuống trên hầu hết các thị trường.

Biểu đồ phát triển lưu lượng giai đoạn 2015 - 2020

Hiện nay hầu hết công nghệ không dây đều tập trung vào việc làm thế nào để tăng khả năng xử lý dữ liệu với tốc độ lớn nhưng lại bỏ qua các đặc tính khác nhau của dữ liệu. Các đặc tính này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng truyền các loại dữ liệu này, đặc biệt là trong khu vực Mobile Backhaul sử dụng công nghệ truyền tải gói dựa trên Ethernet/IP.

Các nhà mạng nhận ra lợi ích việc giám sát luồng dữ liệu một cách chủ động trong thời điểm này. Việc theo dõi được lưu lượng đang lưu thông ở trên mạng đưa ra các khuyến nghị giúp cải thiện chất lượng tương ứng với từng loại dịch vụ mà không phải đầu tư thêm hạ tầng, vẫn đem lại chất lượng trải nghiệm tốt nhất tới người dùng cuối

Sự phức tạp của dịch vụ và sự phân bố lưu lượng không đồng đều

Sự dịch chuyển sang kiểu dữ liệu gói IP không làm cho việc quản lý lưu lượng trở nên dễ dàng hơn. Hơn nữa, hành vi người dùng cuối sử dụng dữ liệu và các yêu cầu riêng đối với các luồng dữ liệu khác nhau đã tạo thêm sự phức tạp trong việc quản lý lưu lượng đầu cuối đến đầu cuối (end-to-end) trong mạng. Các nguyên nhân khác nhau cho sự gia tăng sự phức tạp dữ liệu phải kể đến:

Loại lưu lượng. Yêu cầu đối với các loại lưu lượng khác nhau (ví dụ: voice, video, hoặc best-effort data) thay đổi rất nhiều về băng thông, độ trễ, jitter, mất gói, và tính di động.

Ứng dụng hoặc loại dịch vụ. Các loại lưu lượng tương tự có thể được truyền đi qua các dịch vụ khác nhau hoặc trong các ứng dụng khác nhau. Ví dụ, các thuê bao có thể phát video streaming trong các ứng dụng OTT như Netflix, hoặc như một cuộc gọi thoại hình cho một ứng dụng OTT như WebEx hay Zoom, hay một dịch vụ được các  nhà khai thác quản lý như ViLTE. Lưu lượng video có thể được mã hóa hoặc  không và được tối ưu hóa bởi các nhà cung cấp nội dung hoặc các nhà khai thác.

Phân bổ không gian. Cách sử dụng tập trung về mặt địa lý trong một khu vực nhỏ của mạng lưới - địa điểm cụ thể, khu vực đô thị trung tâm - dẫn đến nghẽn tại các khu vực cụ thể.

Phân bổ thời gian. Lưu lương mạng thay đổi trong suốt cả ngày và tuần khi các thuê bao di chuyển đến và đi khỏi nơi làm việc, đi ra ngoài vào ban đêm hay ngày cuối tuần.

Microbursts. Lưu lượng dữ liệu thay đổi đột ngột trong khoảng thời gian mili giây hay nhỏ hơn. Điều này có thể gây ra tắc nghẽn trong mạng, mặc dù khi nhìn vào lưu lượng truyền tải trung bình theo thời gian, lưu lượng trông có vẻ như vẫn bình thường trong phạm vi xử lý của mạng.

Luật, phân loại lưu lượng ưu tiên. Các nhà khai thác di động có thể sử dụng các luật để ưu tiên lưu lượng cho các kênh hoặc các thành phần hạ tầng mạng (ví dụ, macro hoặc small cells).

Thoại và video là một ví dụ tốt về tác động ảnh hưởng của sự phức tạp của lưu lượng trong việc quản lý mạng. Các loại lưu lượng thời gian thực như video và thoại có các yêu cầu tương tự nhau về độ trễ (latency), độ trượt gói (jitter) và mất gói tin (packet loss) so với các loại dữ liệu khác. Tuy nhiên, các nhà khai thác thường xử lý video và thoại khác nhau. Bởi vì tầm quan trọng của chất lượng thoại trong việc duy trì các thuê bao, các nhà khai thác có thể muốn ưu tiên VoLTE hơn tất cả các dịch vụ dữ liệu khác, bao gồm cả xem video trực tuyến (streaming). Do các yêu cầu băng thông cao của video, nhà mạng có thể muốn giới hạn băng thông phân bổ cho video trong các mạng quá tải hoặc tắc nghẽn.

Ngoài ra, do các yêu cầu đặc biệt của VoLTE, các nhà khai thác phải xử lý lưu lượng VoLTE khác nhau từ các dịch vụ thoại OTT. Tương tự như vậy, nhà khai thác có thể thiết lập các mục tiêu về hiệu suất cho đàm thoại video cao hơn là cho video streaming, bởi vì các thuê bao nhạy cảm hơn với chất lượng đàm thoại video. Việc thiết lập ưu tiên này bao gồm cả trong khu vực mạng truyền tải Backhaul. Kết quả là, các nhà khai thác di động cần phải quản lý lưu lượng một cách cẩn thận hơn dựa trên việc sử dụng tài nguyên. Điều này dẫn tới sự cần thiết phải quản lý và giám sát lưu lượng không phải chỉ là một luồng gói tin thuần nhất, mà là một tập hợp các luồng gói tin đồng thời.

Thông thường, các nhà khai thác thường dựa vào các chỉ số KPI cũ để đưa ra đánh giá hiệu năng của các phần tử mạng. Mặc dù số liệu này vẫn có giá trị, và chắc chắn các nhà khai thác sẽ tiếp tục sử dụng chúng để đánh giá hiệu năng mạng, nhưng các chỉ số KPI cũ lại không đủ để nhà mạng quyết định quản lý hiệu năng mạng theo thời gian thực, cũng như nó liên quan thế nào đến QoE và những vướng mắc thực sự trong mạng là gì sau khi nhận các phản hồi từ dịch vụ mà khách hàng trải nghiệm.

Các nhà khai thác nên làm thế nào tận dụng sự gia tăng lưu lượng nhưng vẫn có lợi cho họ? Các nhà khai thác cần theo đuổi những mục tiêu gì để có được QoE tốt nhất?

Đối với các mạng mà thoại chiếm ưu thế trong quá khứ, câu trả lời rất rõ ràng: mục tiêu chính của các nhà khai thác là tối đa hóa dung lượng thoại, được đo bằng ERLANGS. Trong các mạng 3G, tăng dung lượng data và giảm độ trễ đã trở thành mục tiêu thiết yếu. Trong khi đó, với các mạng LTE, việc chú trọng chuyển dịch về phía QoE và số lượng dịch vụ nhiều, các mục tiêu tối ưu hóa đã trở nên phức tạp hơn hẳn. Vậy thì cách thức quản lý, đo đạc bằng các giải pháp cầm tay như trước đây đã không còn đáp ứng được bài toán LTE nữa.

Các thông số như dung lượng và độ trễ vẫn còn rất quan trọng, nhưng chúng phải được tối ưu hóa cho luồng lưu lượng cụ thể hay các phân đoạn mạng cụ thể, chứ không phải cho lưu lượng tổng thể đến và đi từ mạng RAN. Các phân đoạn mạng về mặt logic là các luồng lưu lượng riêng rẽ, có thể được xác định bởi loại lưu lượng, ứng dụng, thiết bị, dịch vụ, hoặc các thông số khác.

Mục tiêu của các nhà mạng đã không còn là độ trễ thấp và dung lượng cao nữa, mà là độ trễ thấp nhất, dung lượng cao nhất, hoặc cả hai cho các phân đoạn mạng quan trọng nhất đối với các nhà khai thác, hoặc các phân đoạn cần thiết nhất. Cách tiếp cận này có thể khiến các phân đoạn mạng có độ ưu tiên thấp hơn hoặc các yêu cầu ít nghiêm ngặt hơn bị suy giảm hiệu năng, KPI thấp, nhưng vẫn duy trì được mức QoE tốt.

Trong khi phương pháp này làm tăng sự phức tạp của quản lý lưu lượng, nó lại mở ra các cơ hội mới cho các nhà khai thác di động để phân bổ tài nguyên mạng theo một cách hiệu quả hơn, mà nếu được thực hiện đúng cách sẽ làm tăng QoE trong mạng hiện tại - do đó loại bỏ hoặc trì hoãn việc phải tăng chi phí đầu tư cho việc mở rộng dung lượng. Nó cũng cho phép các nhà khai thác di động xác định một chiến lược quản lý lưu lượng như một sự khác biệt từ các nhà khai thác khác, và sử dụng nó như một công cụ để cạnh tranh.

Đa truy nhập vô tuyến, các băng tần và các lớp Mobile Backhaul khác nhau cùng tồn tại trong mạng HetNet

Xu hướng tích hợp sâu hơn cho nhiều công nghệ mạng - mạng HetNets, ví dụ: LTE và Wi-Fi - cho phép các nhà khai thác di động phân bổ lưu lượng truy cập đến các nguồn tài nguyên RAN cụ thể, tùy thuộc vào khả năng của các phần tử trong RAN, các điều kiện RAN thời gian thực, vị trí thuê bao với lịch sử, nhu cầu, và chính sách của nhà mạng. Các tổ hợp không đồng nhất của các phần tử trong RAN (mạng HetNets) tạo ra một môi trường phức tạp và thách thức hơn trong việc đảm bảo chất lượng truyền dẫn, đồng thời cũng tạo ra một kiến trúc mạng Backhaul khó quản lý hơn.

Việc quản lý không đơn thuần chỉ là chất lượng truyền tải các loại dữ liệu trên mạng nữa mà là chất lượng truyền tải đi qua các phân đoạn khác nhau về địa lý, về loại thiết bị, về các phân vùng mạng của từng loại công nghệ hoặc trong mỗi công nghệ, khi có sự cố xẩy ra thì lỗi xẩy ra ở khu vực nào.

Mạng backhaul cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba làm giảm sự kiểm soát của nhà mạng

Trong những năm vừa qua, các nhà mạng di động phải đối mặt với áp lực lớn từ việc cắt giảm chi phí trên từng bit, bởi họ phải truyền tải một lượng ngày càng lớn lưu lượng nhưng lợi nhuận gia tăng không tương xứng. Những ưu điểm về chi phí của công nghệ truyền tải Ethernet là động lực chính khiến cho công nghệ truyền dẫn Ethernet được chấp nhận trong mạng backhaul. Mạng backhaul có thể được cung cấp và quản lý bởi nhà cung cấp bên thứ ba, và có thể được chia sẻ với các nhà mạng hoặc nhà cung cấp dịch vụ khác. Kết quả là các nhà mạng ngày càng gia tăng việc chia sẻ mạng backhaul cũng như thuê từ bên thứ ba.

Tuy nhiên, mô hình này làm chậm thời gian khắc phục sự cố, không giám sát trong suốt được chất lượng đường truyền. Thông thường, các nhà mạng di động muốn tự thực hiện bài đo, giám sát và giải quyết sự cố các đường truyền backhaul một cách độc lập với các nhà cung cấp dịch vụ đường truyền trong khi hạ tầng mạng thì vẫn thuộc sự quản lý của nhà cung cấp đường truyền. Vậy liệu có một giải pháp nào trung hòa được các mâu thuẫn này hay không?

Giải pháp quản lý mạng Ethernet backhaul hiệu quả

Hiện nay có hai giải pháp đang được áp dụng trong quản lý mạng Ethernet backhaul: giải pháp sử dụng thiết bị giao diện giám sát NID (network interface device) và giải pháp sử dụng SFP thông minh. Hai giải pháp này có chung đặc điểm là đều tích hợp vào trên các giao diện tại các thiết bị mạng, do đó tất cả các lưu lượng chảy qua thiết bị mạng sẽ dễ dàng được quản lý nhờ một hệ thống máy chủ thu thập thông tin từ các phần tử này.

Trong một vài trường hợp, các nhà mạng lựa chọn sử dụng NIDs – các thiết bị gắn trước giao diện đầu vào/ra trước các nốt mạng Ethernet/IP, có khả năng giám sát quản lý lưu lượng - nhằm mang đến cái nhìn rõ ràng hơn về chất lượng của mạng backhaul và khả năng giải quyết sự cố tốt hơn. NID có ưu điểm dễ khai báo, năng lực xử lý độc lập tại mỗi nút mạng tốt. Tuy nhiên, NID cũng làm gia tăng thêm chi phí và độ phức tạp trong việc quản lý mạng backhaul do số lượng các thiết bị mạng bị đội lên, tăng độ trễ xử lý và cồng kềnh của cấu trúc mạng. Hạn chế về việc mở rộng và chi phí của NID đồng thời là vấn đề với các mạng to lớn, và đặc biệt nghiêm trọng trong mạng đa lớp HetNets khi có LTE. Với qui mô hàng trăm thiết bị trong một khu vực nhỏ trong LTE, NID trở nên không phù hợp để áp dụng cho toàn bộ các phần tử mạng lưới.

Các nhà mạng đã và đang bắt đầu triển khai giải pháp SFP thông minh như một sự thay thế. SFP thông minh dựa trên ý tưởng tích hợp các vi xử lý thông minh vào bên trong các SFP – giao diện chuyển đổi quang điện được sử dụng trên các thiết bị mạng hiện nay – nhằm giám sát các lưu lượng đi qua mạng lưới cũng như chủ động kiểm tra chất lượng mạng tại bất kỳ thời điểm nào mà nhà mạng mong muốn. Giải pháp này cần kết hợp với một bộ xử lý trung tâm cài đặt trên máy chủ nằm trên mạng lưới, nhằm cho phép các nhà mạng giám sát, đo đạc chủ động trên qui mô toàn mạng lưới truyền dẫn backhaul nói riêng và cả phần mạng lõi nói chung.

Với chi phí đầu tư thấp, yêu cầu cơ sở hạ tầng ít, và mang đến cho nhà mạng khả năng giám sát một cách chính xác và đưa ra các giải pháp đáp ứng nhu cầu quản lý các mạng backhaul phức tạp.

Mô hình giải pháp giám sát mạng Ethernet backhaul

Các mô hình đo đạc, giám sát và quản lý mạng Backhaul theo giải pháp này giúp nhà mạng giải quyết được các thách thức đã đặt ra.

Trong bối cảnh hiện tại, các nhà cung cấp thiết bị đo hàng đầu trên thế giới đều đang hướng đến việc đưa ra giải pháp giám sát mạng backhaul cho 4G LTE, trong đó đi đầu phải kể đến Viavi. Cụ thể, Viavi mang đến giải pháp EtherASSURE, hỗ trợ nhà mạng trong việc giám sát cũng như quản lý chất lượng mạng backhaul trong 4G LTE. Tại Việt Nam, COMIT hiện cung cấp giải pháp Viavi. Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc cung cấp dịch vụ và giải pháp viễn thông, COMIT hiện cung cấp các dịch vụ và giải pháp tư vấn, thiết kế, đo kiểm và tối ưu đối với các công nghệ 2G, 3G, và 4G LTE. COMIT đã và đang triển khai rất nhiều các dịch vụ và giải pháp viễn thông cho các nhà mạng lớn tại Việt Nam như Viettel, MobiFone, Vinaphone và tại các thị trường khu vực như Lào, Campuchia, Đông Timo, Myanmar và Philippines.

 Với những thách thức đã đặt ra trong LTE và QoE dẫn đến nhu cầu tất yếu phải lựa chọn và sử dụng một giải pháp giám sát mạng backhaul tập trung, dễ dàng triển khai mở rộng trên qui mô lớn. Đây là yếu tố tiền đề và sống còn để tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ từ đầu cuối đến đầu cuối trong bối cảnh LTE đã và đang ra đời. Các nhà mạng cần có sự chuẩn bị nghiên cứu trước các bộ giải pháp phù hợp để kịp thời đáp ứng việc triển khai, vận hành và khai thác có hiệu quả mạng lưới LTE.

Nguyễn Quang Vinh

Tham khảo: www.viavisolutions.com; www.comitcorp.com

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Viễn thông

Gần một nửa dân số thế giới được kết nối Internet vào cuối năm 2016

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Trên toàn thế giới, có 47% dân số thế giới đã kết nối mạng, con số này còn cách khá xa mục tiêu 60% dân số được kết nối mạng của Liên hợp quốc vào năm 2020...

(ICTPress) - Theo Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), cơ quan chuyên ngành của Liên hợp quốc về CNTT và Truyền thông cho biết ngay 22/11, vào cuối năm 2016, gần một nửa dân số thế giới sẽ sử dụng Internet khi các mạng di động phát triển và giá cước giảm, nhưng phần đông số người sử dụng vẫn tập trung ở các nước phát triển.

Cụ thể, sẽ có 80% dân số ở các nước phát triển sử dụng Internet. Nhưng chỉ khoảng 40% các nước đang phát triển và chưa đến 15% các nước kém phát triển có nối mạng, theo báo cáo của ITU.

Ở nhiều nước nghèo ở châu Phi, có 1 trong 10 người có kết nối Internet. Những người chưa được tiếp cận Internet chủ yếu là phụ nữ, người già, người không được đi học, người nghèo và sống ở các vùng nông thôn, ITU cho biết.

Trên toàn thế giới, có 47% dân số thế giới đã kết nối mạng, con số này còn cách khá xa mục tiêu 60% dân số được kết nối mạng của Liên hợp quốc vào năm 2020, khoảng 3,9 tỷ người, hơn 1 nửa dân số thế giới chưa được nối mạng. ITU kỳ vọng vào cuối năm nay có 3,5 tỷ người được truy cập Internet.

Theo báo cáo của ITU, nhờ có sự phổ biến của các mạng di động thế hệ 3G, 4G trên toàn thế giới đã giúp phổ cập Internet đến nhiều người dân hơn. Các công ty viễn thông và Internet đang phát triển nhiều loại smartphone có giá cả phù hợp hơn để khuyến khích người dùng sở hữu để trình duyệt Internet và đáp ứng sự bùng nổ của các dịch vụ dữ liệu. Tuy nhiên, các nước kém phát triển vẫn bị tụt lại so với thế giới.

Ở các nước kém phát triển mức độ truy cập Internet đã đạt cấp độ ở các nước phát triển vào năm 1998, có nghĩa là cách 20 năm so với các nước phát triển. Điều này là do chi phí các dịch vụ và chi phí đầu tư mở rộng hạ tầng cho người sử dụng ở nông thôn, vùng sâu, và giá cước di động còn cao.

QM (Theo Reuters)

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Chuyển động ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
CNTT

Tài liệu hữu ích về 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở VN

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Cuốn sách là tài liệu hữu ích, cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quát và những kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về công nghệ 4G LTE...

(ICTPress) - Công nghệ 4G LTE là một chuẩn di động thế hệ thứ tư, cho phép truyền tải dữ liệu với tốc độ vượt trội so với thế hệ thứ ba (3G).

Với công nghệ tiên tiến này, chúng ta có thể truy cập tất cả dịch vụ mọi lúc, mọi nơi. Tuy vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng mạng di động thế hệ thứ tư (4G) đang được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều thay đổi khác biệt so với những mạng di động hiện nay.

Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ TT&TT về việc tăng cường xuất bản sách phục vụ phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ của Ngành; trong thời gian qua, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với PGS. TS. Trần Minh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược TT&TT và các chuyên gia về lĩnh vực viễn thông xuất bản cuốn sách “Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam”.

Nội dung cuốn sách được cấu trúc thành hai phần chính:

Phần kỹ thuật, công nghệ: Giới thiệu về công nghệ 4G LTE, các kỹ thuật cơ bản và kiến trúc mạng 4G LTE, kiến trúc giao diện vô tuyến LTE, lớp vật lý LTE, các thủ tục truy cập LTE, cấu trúc mạng lõi và hạ tầng mạng toàn IP trong 4G LTE.

Phần định hướng, chiến lược: Trình bày chiến lược và định hướng phát triển băng rộng tại Việt Nam, định hướng quy hoạch và quản trị tài nguyên tần số cho 4G_LTE, lộ trình xây dựng mạng 4G LTE trên nền mạng GSM tại Việt Nam.

Cuốn sách là tài liệu hữu ích, cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quát và những kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về công nghệ 4G LTE; giúp các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông hoạch định chiến lược phát triển công nghệ 4G LTE cũng như đưa vào khai thác đúng thời điểm, phù hợp với nhu cầu và hạ tầng hệ thống thiết bị ở nước ta để mang lại hiệu quả cao nhất.

 Minh Anh

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Viễn thông

Thế giới sẽ có 550 triệu thuê bao 5G vào năm 2022

Tóm tắt: 

(ICTPress) - 5G sẽ thúc đẩy chuyển đổi số ở nhiều ngành, cho phép những ứng dụng mới trong các lĩnh vực như IoT, ô tô, vận tải và dữ liệu lớn...

(ICTPress) - Thuê bao 5G sẽ tăng trưởng nhanh chóng một khi công nghệ này phổ biến. Ericsson dự báo số thuê bao sẽ đạt 550 triệu vào năm 2022.

Bắc Mỹ được cho là sẽ dẫn dắt sự bùng nổ 5G, với dự báo chiếm khoảng 25% thuê bao 5G vào năm 2022. Tiếp theo là châu Á – Thái Bình Dương sẽ là khu vực tăng trưởng nhanh thứ hai, với số thuê bao 5G dự báo đạt 10%. Từ năm 2016 – 2020, Trung Đông và châu Phi sẽ dịch chuyển từ chủ yếu là thuê bao GSM/EDGE sang WCDMA/HSPA và LTE chiếm khoảng 80%.

Thuê bao di động theo khu vực và công nghệ

Vào cuối năm 2016 sẽ có 3,9 tỷ thuê bao smartphone trên toàn cầu, với gần 90% thuê bao đăng ký mạng WCDMA/HSPA và LTE. Dự báo là số thuê bao smartphone này sẽ tăng lên 6,8 tỷ và hơn 95% thuê bao đăng ký mạng WCDMA/HSPA,LTE và 5G vào năm 2022.

Ulf Ewaldsson, Giám đốc chiến lược và công nghệ của Ericsson cho biết: “Gần 90% thuê bao smartphone là 3G, 4G và các mạng 5G đã được chuẩn hóa dự kiến sẽ phổ biến vào năm 2020. Chúng tôi đã nhận thấy sự quan tâm lớn của các nhà mạng trong việc khai trương các mạng tiền 5G. 5G sẽ thúc đẩy chuyển đổi số ở nhiều ngành, cho phép những ứng dụng mới trong các lĩnh vực như IoT, ô tô, vận tải và dữ liệu lớn”.

Theo Báo cáo di động (Mobility Report) mới nhất của Ericsson, sẽ có 8,9 tỷ thuê bao di động, trong đó 90% sẽ là thuê bao băng rộng di động. Đồng thời, cũng sẽ có 6,1 tỷ thuê bao thường.

Dự báo các thuê bao vào năm 2022

Ví dụ như trong quý 3 năm nay, có 84 triệu thuê bao di động mới được bổ sung, nâng tổng số thuê bao toàn cầu lên 7,5 tỷ thuê bao di động, tăng trưởng khoảng 3% mỗi năm. Ấn Độ là có số thuê bao mới nhiều nhất với quý 3 là 15 triệu, tiếp theo là Trung Quốc 14 triệu, Indonesia 6 triệu và Myanmar và Phillipines mỗi nước thêm 4 triệu thuê bao. Thuê bao băng rộng di động đang tăng trưởng nhanh chóng vào khoảng 25%/năm, tăng xấp xỉ 190 triệu trong Quý 3 năm 2016 cùng với tổng số thuê bao băng rộng di động hiện nay đạt khoảng 4,1 tỷ.

Cũng theo báo cáo, lưu lượng dữ liệu di động tiếp tục tăng trưởng, nhờ có thuê bao smartphone ngày càng tăng và sự gia tăng liên tục lưu lượng dữ liệu trung bình trên mỗi thuê bao, nhờ việc xem nội dung video ngày càng nhiều hơn. Riêng trong quý 3 năm 2016, lưu lượng dữ liệu tăng trưởng khoảng 10% và 50% qua mỗi năm từ nay đến 2020, chiếm khoảng gần 75%  toàn bộ lưu lượng dữ liệu di động. Việc xem video trực tuyến gia tăng để tương tác với bạn bè, gia đình và người theo dõi theo đó dự kiến sẽ đóng góp tăng trưởng hàng năm 39% vào lưu lượng truyền thông xã hội. Khoảng 1 trong 5 người sử dụng smartphone ở Mỹ quan tâm tới phát video trực tuyến, và các thị trường đang tăng trưởng cao là Ấn Độ, Indonesia, Brazil và Oman.

Cuối cùng, báo cáo dự báo IoT sẽ chiếm khoảng 18 tỷ trong số 29 tỷ thiết bị được kết nối vào năm 2022.

Báo cáo di động của Ericsson là một ấn phẩm hàng đầu của ngành về lưu lượng dữ liệu di động, cung cấp các đo kiểm chuyên sâu từ các mạng hiện có trên toàn cầu. Báo cáo sử dụng các đo kiểm và phân tích, cùng với các dự báo nội bộ và các nghiên cứu liên quan khác, để mang lại các thông tin chi tiết về các xu hướng lưu lượng và thị trường trong Xã hội kết nối.

 Minh Anh

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Chuyển động ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
Viễn thông

Công bố miễn phí bộ trợ giúp lập trình cho giáo viên, học sinh

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Với hơn 30 triệu lượt sử dụng năm 2015, phiên bản mới sẽ giúp thêm hàng chục triệu người thử học lập trình lần đầu tiên.

(ICTPress) - Với sự phổ biến rộng lớn của Minecraft khắp thế giới, Microsoft và Code.org tin tưởng rằng, bản Tutorial có tiềm năng tiếp cận người hâm mộ (fan) mọi lứa tuổi và giới tính, phiên bản mới giúp thêm hàng chục triệu người thử học lập trình lần đầu tiên.

Microsoft và Code.org vừa ra mắt phiên bản MineCraft Hour of Code Designer, một bộ trợ giúp lập trình cho học sinh và các giáo viên, được thiết kế cho chương trình Hour of Code (Giờ lập trình), một sáng kiến toàn cầu được tổ chức trong tuần lễ Giáo dục Khoa học Máy tính từ ngày 5 - 11/12 hàng năm.

Phiên bản trợ giúp dựa trên web, sẵn có tại địa chỉ http://code.org/minecraft - giúp người mới lập trình có thể tạo và chia sẻ các game MineCraft đơn giản của họ, và được thiết kế để trao quyền cho bất kỳ ai mới bắt đầu học các kỹ năng xử lý tình thế và các suy nghĩ thiết yếu, những kỹ năng cần thiết để hòa nhập thế giới phát triển bởi công nghệ ngày nay.

Được sáng tạo bởi nhà sản xuất game MineCraft tại Mojang và Microsoft, hợp tác cùng Code.org, những trải nghiệm vui vẻ và dễ học trong một giờ được xây dựng dựa trên phiên bản thành công năm qua, với kỷ lục tiếp cận được hơn 30 triệu học sinh khắp thế giới.

Khảo sát chỉ ra rằng, yếu tố lớn nhất để chuyển đổi thành công trải nghiệm dạy và học là những kỹ năng giáo dục – đặc biệt là kỹ năng được đào tạo để tối ưu hóa công nghệ trong lớp học. Trong thực tế cứ 3 người thì 1 người tham dự khảo sát nghĩ rằng họ không thể trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết để thành công trong môi trường làm việc tương lai với giáo trình và cách giảng dạy hiện tại. Với mục tiêu truyền cảm hứng cho hàng triệu học sinh thử lập trình lần đầu – và tiếp tục yêu thích học khoa học máy tính – trong lần ra mắt này, bản Tutorial (hướng dẫn) ra mắt cho  10 ngôn ngữ, bao gồm tiếng Tây Ban Nha, và dự kiến sẽ sẵn sàng với 50 ngôn ngữ vào ngày 5/12/2016.

Với sự phổ biến rộng lớn của Minecraft khắp thế giới, Microsoft và Code.org tin tưởng rằng, bản Tutorial có tiềm năng tiếp cận người hâm mộ (fan) mọi lứa tuổi và giới tính. Phụ nữ và các bé gái đã chiếm gần một nửa số lượng fan hâm mộ toàn cầu của trò chơi này.

Bản Tutorial cũng nhấn mạnh cam kết của Microsoft là đảm bảo mọi bạn trẻ đều có cơ hội học hỏi khoa học máy tính, một tiêu chí kinh tế và xã hội trong thời đại chuyển đổi kỹ thuật số, mà tiêu biểu là con số tại Mỹ.

Dự kiến tới năm 2020, riêng ngành khoa học máy tính sẽ tạo ra 1,4 triệu việc làm theo con số của Cục Thống kê Lao động. Con số này hiện nay ở Việt Nam, dự kiến là hơn 1 triệu lao động làm việc trong ngành CNTT. Đặc biệt, Microsoft đặt mục tiêu tiếp cận các sinh viên không có quyền truy cập máy tính, đặc biệt là trẻ em gái và thiểu số.

Được thiết kế cho các em trên 6 tuổi, phiên bản Minecraft Hour of Code Designer dạy học sinh tạo ra những trải nghiệm MineCraft riêng biệt, nơi các em tự lập ra luật chơi. Các em có thể tạo ra gà, ra vàng hoặc zombie để bỏ chạy, thay vì đánh nhau. Song song đó, học sinh có thể sử dụng các giao diện lập trình kéo – thả quen thuộc của Code.org để học các quan niệm khoa học máy tính ví dụ như lập trình hướng đối tượng, quản trị sự kiện, và các vòng lặp. Người chơi đối diện với loạt 12 mức chơi, gia tăng niềm vui nhờ có thể chia sẻ với bạn bè.

 “Code.org được thành lập với sứ mệnh là giúp mọi học sinh tuổi đến trường đều có cơ hội học khoa học máy tính – không chỉ là cho nền tảng sự nghiệp, mà còn bởi vì mọi học sinh đều yêu thích môn học này. MineCraft là một game đặc biệt giúp thu hút mọi cộng đồng đa dạng toàn cầu. Chúng tôi rất phấn khởi khi có cơ hội dạy học sinh lập trình bằng sự thân thuộc vui nhộn của MineCraft, và có thể tiếp cận học sinh mọi thành phần và mọi trình độ”,  ông Hadi Partovi, đồng sáng lập kiêm CEO của Code.org chia sẻ. 

Để hỗ trợ Code.org và chiến dịch Giờ lập trình toàn cầu, Microsoft sẽ tổ chức hàng chục ngàn sự kiện lập trình cho giới trẻ xuyên suốt 60 quốc gia. Trong tuần lễ Giáo dục Khoa học Máy tính, sẽ có hơn 700 sự kiện miễn phí được Microsoft Stores tổ chức trên khắp toàn cầu.

Sinh viên có thể đăng ký dự sự kiện này trực tiếp tại các cửa hàng Microsoft Stores qua địa chỉ microsoft.com/youthsparkprograms

Ngoài các sự kiện lập trình và bản Tutorial mới nhất, Microsoft cũng đã nhận được nhiều lời khen từ các thầy cô cho phiên bản Minecraft Giáo dục- phiên bản đầy đủ tính năng mang sự kỳ diệu của Minecraft vào  lớp học với sự nhập vai tốt hơn và các kế hoạch cho một giáo án dài hạn.

QA

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Chuyển động ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
CNTT

Công bố chi tiết 20 sản phẩm CNTT vào chung khảo Nhân tài Đất Việt 2016

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Giải thưởng Nhân tài Đất Việt 2016 với chủ đề “Vì chất lượng cuộc sống” thu hút sự tham gia của đông đảo thí sinh trong và ngoài nước, với sự nở rộ của các sản phẩm bám sát hơi thở của cuộc sống...

(ICTPress) - Giải thưởng Nhân tài đất Việt (NTĐV) 2016 lĩnh vực CNTT có 3 hệ thống sản phẩm dự thi chính: Sản phẩm CNTT Thành công; Sản phẩm CNTT Triển vọng và Sản phẩm CNTT Ứng dụng trên thiết bị di động. 

Giải thưởng Nhân tài Đất Việt năm 2016 với chủ đề “Vì chất lượng cuộc sống” đã thu hút sự tham gia của đông đảo thí sinh trong và ngoài nước, với sự nở rộ của các sản phẩm bám sát hơi thở của cuộc sống - các sản phẩm về môi trường, nông nghiệp thông minh, ứng dụng trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng,...

Tổng cộng đã có 260 sản phẩm tham dự, trong đó 17 sản phẩm thuộc hệ thống Sản phẩm CNTT Thành công; 187 sản phẩm thuộc hệ thống sản phẩm CNTT Triển vọng và 56 các sản phẩm CNTT ứng dụng trên thiết bị di động.

Ban tổ chức Giải thưởng đã thành lập Hội đồng sơ khảo bao gồm các giáo sư, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực CNTT-TT, trong đó Chủ tịch Hội đồng Sơ khảo là Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam Nguyễn Long, Chủ tịch Hội đồng Chung khảo là GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu.

Ngày 29/10 vừa qua, Hội đồng Sơ khảo đã có buổi làm việc tập trung, sôi nổi và căng thẳng để lựa chọn 20 đại diện tác giả, nhóm tác giả với các sản phẩm xuất sắc nhất tham gia vòng thi Chung khảo.

Buổi họp báo công bố Giải thưởng Nhân tài đất Việt Nam 2016

Dưới đây là chi tiết 20 sản phẩm lĩnh vực CNTT:

Hệ thống Sản phẩm CNTT Thành công có 3 sản phẩm vào Vòng Chung khảo gồm:

1/ SẢN PHẨM: QUY TRÌNH XÁC THỰC HÀNG GIẢ của nhóm Tác giả: Trung tâm doanh nghiệp hội nhập và phát triển

Là một giải pháp sáng tạo, kiểm tra sản phẩm bằng thiết bị di động để đọc trực tiếp mã vạch ma trận của Tem mã Qr, mang tính bảo mật tuyệt đối.

2. SẢN PHẨM: HỆ THỐNG MỘT CỬA LIÊN THÔNG (VNPT-IGATE) của nhóm Tác giả: VNPT IGate (Trung tâm CNTT - VNPT Tiền Giang)

Sản phẩm được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân tổ chức có nhu cầu giải quyết các thủ tục hành chính nhanh chóng tại một địa chỉ truy cập duy nhất. Cung cấp thông tin một cách tự động và trực tuyến về tình trạng giải quyết hồ sơ, cấp phép.

3. SẢN PHẨM: HỆ THỐNG CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG – MY VINAPHONE của nhóm Tác giả: Trung tâm CNTT Tổng công ty Hạ tầng mạng (VNPT - Net)

Ứng dụng my Vinaphone cho phép khách hàng là các thuê bao của Vinaphone dễ dàng theo dõi và quản lý tài khoản, gói cước, dịch vụ.

 Hệ thống CNTT Triển vọng có 10 sản phẩm vào Vòng Chung khảo bao gồm:

1. SẢN PHẨM "GIẢI PHÁP KẾT NỐI VÀ ĐIỀU KHIỂN CÁC THIẾT BỊ THÔNG MINH TỪ XA ELINKME" của nhóm Tác giả: Công ty TNHH E LINK GATE

Sản phẩm cung cấp khả năng truy cập một thiết bị thông minh với các ưu điểm nổi bật: Đơn giản, Điều khiển thông minh, Khả năng bảo vệ dữ liệu của người sử dụng.

2. SẢN PHẨM "ANTBUDDY – NỀN TẢNG GIAO TIẾP NỘI BỘ VÀ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG ĐA KÊNH" của nhóm Tác giả: Chi nhánh Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ công nghệ H.T.K-I.N.C

AntBuddy cung cấp các giải pháp truyền thông đám mây toàn diện cho doanh nghiệp, bao gồm các dịch vụ điện thoại, dịch vụ chăm sóc và quản lý thông tin khách hàng.

3. SẢN PHẨM "MÁY ĐỌC SÁCH CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ (VREADER)" của nhóm Tác giả: Phạm Nguyễn Hải Âu, Đào Minh Tân, Huỳnh Nhật Minh

Sản phẩm hỗ trợ người khiếm thị đọc sách in Tiếng Việt, Tiếng Anh. Người khiếm thị chỉ cần sử dụng các nút bấm vật lý và nghe âm thanh thông báo mà không cần sử dụng giao diện đồ họa.

4. SẢN PHẨM "VIETGLASSES - CÁCH NHÌN THẾ GIỚI CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ" của nhóm Tác giả: Nguyễn Đình Luận, Phan Huỳnh Lâm, Nguyễn Trí Hải, Nguyễn Thanh Vinh, Lê Quang Định

VIETGLASSES giúp cho những người khiếm thị có thể “nhìn” và biết được những đồ vật phía trước, có thể hoạt động, sinh hoạt như một người bình thường.

5. SẢN PHẨM "SÀN DU LỊCH TRỰC TUYẾN ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM – TRIPI.VN" của nhóm Tác giả: Công ty cổ phần phát triển công nghệ thương mại du lịch TETTO

Tripi dựa trên nền tảng Data Science tự động gợi ý gói du lịch thông minh trong khoảng thời gian khởi hành khách hàng mong muốn

6. SẢN PHẨM "CHIP NHẬN DẠNG TIẾNG NÓI TIẾNG VIỆT VÀ THIẾT BỊ HỖ TRỢ NGƯỜI KHIẾM THỊ BẰNG TIẾNG NÓI" của Tác giả: Nhóm nghiên cứu iHearTech - Trường Đại Học Bách Khoa - Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh

Là vi mạch tích hợp dùng để nhận dạng tiếng nói tiếng Việt và các ngôn ngữ khác, hỗ trợ đắc lực cho người khiếm thị bằng tiếng nói qua công nghệ tổng hợp tiếng nói.

7. SẢN PHẨM: HỆ THỐNG MẠNG GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG NÔNG NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP của nhóm tác giả Công ty TNHH Farmtech VietNam

Hệ thống sử dụng các công nghệ kết nối mạng để có thể tổng hợp số liệu từ nhiều điểm tổng hợp số liệu môi trường tốt nhất trước khi gửi kết quả cho người sử dụng.

8. SẢN PHẨM "SÀN GIAO DỊCH HÀNG TIÊU DÙNG NHANH TRỰC TUYẾN" của nhóm Tác giả Công ty Cổ phần dịch vụ Đi Siêu Thị

 Là hệ thống thương mại điện tử (TMĐT) dành riêng cho ngành tiêu dùng nông sản đầu tiên tại Việt Nam hiện nay, bao gồm hàng trăm chuỗi siêu thị, nhà cung cấp, cửa hàng thực phẩm sạch tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh

9. SẢN PHẨM "GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CHO CAMERA GIÁM SÁT" của nhóm tác giả Công ty cổ phần VP9 Việt Nam

Đây là sản phẩm của người Việt phục vụ đắc lực cho việc giám sát và đảm bảo an ninh, đảm bảo việc giám sát từ xa nhiều kho bãi, nhà máy, chi nhánh, cửa hàng bán lẻ...

10. SẢN PHẨM: HỆ THỐNG PHÂN TÍCH NGỮ NGHĨA VÀ QUẢN TRỊ TƯƠNG TÁC MẠNG XÃ HỘI SMCC của nhóm Tác giả: Công ty Cổ phần Công Nghệ Chọn lọc Thông tin

Là hệ thống phân tích thống kê thông tin trên mạng xã hội có đầy đủ chức năng của một hệ thống phần mềm dịch vụ SaaS, hệ thống sử dụng các kỹ thuật Deep Learning tiên tiến để xử lý văn bản Tiếng Việt.

Hệ thống sản phẩm CNTT Ứng dụng trên thiết bị di động có 7 sản phẩm vào vòng Chung khảo bao gồm:

1. SẢN PHẨM "KHỈ CON TINH NGHỊCH" (MONKEY JUNIOR) của nhóm Tác giả Công ty Cổ phần Early Start

Đây là hệ thống dạy học ngoại ngữ cho các bé từ 4 tháng tuổi đến 10 tuổi với kho dữ liệu đa phương tiện bao gồm: hình ảnh, video và âm thanh.

2. SẢN PHẨM: HACHI – NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH của nhóm tác giả Đặng Xuân Trường, Vũ Thành Đạt, Hoàng Thị Yến Mai, Nguyễn Văn Quân, Đặng Văn Hiền, Nguyễn Thị Xuân.

Sản phẩm là hệ thống thuỷ canh thông minh ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp đô thị, một trong những giải pháp đầu tiên tại Việt Nam sử dụng công nghệ đèn LED nông nghiệp và điều khiển qua các cảm biến thông minh thông qua smartphone.

3. SẢN PHẨM "MẠNG GIAO THÔNG VẬN TẢI PIISHIP" của nhóm Tác giả: Công ty TNHH mạng giao thông vận tải Piiship.com

Piiship kết nối mạng lưới hàng nghìn Tài xế với những cá nhân hay doanh nghiệp có nhu cầu chuyển hàng, từ đó cung cấp khả năng vận chuyển nhanh nhất với chi phí thấp nhất.

4. SẢN PHẨM: MOKI - ỨNG DỤNG MUA BÁN TRÊN DI ĐỘNG CHO MẸ VÀ BÉ của nhóm tác giả: Công ty CP MOKI

Sản phẩm là ứng dụng mua bán đồ cũ và mới các mặt hàng cho mẹ và bé trên nền tảng di động với mô hình kinh doanh (business model).

5. SẢN PHẨM "GIẢI PHÁP THANH TOÁN THẺ TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG MOBILEPOS" của nhóm Tác giả Công ty cổ phần công nghệ mPoS Việt Nam

Sản phẩm là giải pháp thanh toán thẻ trên di động, có thể cho phép thanh toán được mọi loại thẻ Tín dụng và thẻ ATM của mọi ngân hàng tại Việt Nam.

6. SẢN PHẨM "SÀN GIAO DỊCH TMĐT" của nhóm Tác giả Công ty TNHH Microlink Việt Nam

Sản phẩm là sàn giao dịch TMĐT dành cho các chủ xe và chủ hàng tìm kiếm, đăng thông tin dịch vụ vận tải và tiến hành quy trình mua bán dịch vụ vận chuyển hàng hóa.

7. SẢN PHẨM: XPEAK – HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP của nhóm Tác giả: Công ty CP Công nghệ giáo dục Thông Minh

Xpeak trang bị cho người học nền tảng cơ bản và vững chắc để có thể nói tiếng Anh đúng chuẩn, từ đó có thể học giao tiếp thành thạo trong thời gian ngắn.

Khi tham gia dự thi các hệ thống sản phẩm này, các thí sinh ở mỗi hệ thống sản phẩm sẽ có cơ hội nhận được 1 giải Nhất trị giá 100 triệu đồng, 1 giải Nhì trị giá 50 triệu đồng và 1 giải Ba trị giá 30 triệu đồng cùng phần thưởng của các đơn vị tài trợ.

Lễ trao giải diễn ra vào 19h00 thứ bảy, ngày 19/11/2016 tại ung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội - 91 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm - Hà Nội được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam 

QA

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT