Syndicate content

Tri thức chuyên ngành

VTC Intecom triển khai "đám mây" Azure đáp ứng khách hàng toàn cầu

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Ước tính, triển khai Microsoft Azure sẽ giúp tiết kiệm hơn 60% chi phí đầu tư và vận hành so với đầu tư hạ tầng truyền thống.

(ICTPress) - VTC Intecom và Microsoft hôm nay 28/12 chính thức công bố việc triển khai thành công Microsoft Azure tại VTC Intecom góp phần thúc đẩy và gia tăng việc triển khai dịch vụ đám mây cho khách hàng của VTC Intecom trên toàn cầu.

Là đơn vị  tiên phong trong lĩnh vực CNTT và nội dung số, đi đầu trong phát hành trò chơi trực tuyến và trung gian thanh toán, VTC Intecom có đội ngũ nhân sự đông đảo hơn 1000 nhân viên, kèm hệ thống đại lý  trải dài khắp 63 tỉnh thành tại Việt Nam, phục vụ hàng chục triệu khách hàng trong và ngoài nước. Đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho lượng khách hàng liên tục gia tăng cùng mạng lưới đại lý phát triển mạnh trong cả ba mạng thanh toán trực tuyến, thương mại điện tử và giải trí trực tuyến trong suốt bề dày lịch sử 10 năm, VTC Intecom đã luôn tìm hiểu áp dụng và phát triển giải pháp trên nhiều nền tảng khác biệt.

Nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu dịch vụ và mang lại dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng trên diện rộng, VTC Intecom triển khai điện toán đám mây ngay từ khi thành lập song song với các giải pháp CNTT truyền thống, đồng thời tự xây dựng và triển khai các ứng dụng đám mây. Việc tự  nghiên cứu và triển khai giải pháp đám mây giúp VTC Intecom tối ưu được về vận hành, chi phí, nhân sự,... đặc biệt là khi triển khai dịch vụ nội địa.

Tuy nắm ưu thế khi triển khai hạ tầng cơ sở và đám mây cho khách hàng tại Việt Nam nhưng VTC Intecom vẫn gặp thách thức khi mở rộng thị trường ra nước ngoài, cụ thể là lựa chọn Trung tâm cơ sở dữ liệu, thuê bao đường truyền khi lắp đặt hạ tầng máy chủ và chi phí nhân sự đắt đỏ để lắp đặt, vận hành cho thị trường ngoài nước. Bài toán này là bài toán không chỉ về kinh phí ngắn hạn mà là bài toán thiết yếu về kinh doanh, chỉ số lợi nhuận khi mở rộng ra thị trường quốc tế. 

Để xử lý được bài toán về chi phí khi triển khai các dịch vụ tại nước ngoài, VTC Intecom lựa chọn sử dụng nền tảng Microsoft Azure.

Ông Nguyễn Tiến Đạt – Phó giám đốc công ty VTC Công nghệ và Nội dung số chia sẻ: “Trước đây chúng tôi chưa dùng nên không có sự so sánh. Tuy nhiên, so sánh với việc tự triển khai dịch vụ tại nước ngoài thì giải pháp Microsoft Azure cho phép chúng tôi khá linh hoạt cũng như rút ngắn được nhiều thời gian”.

Sự tùy biến hết sức linh hoạt và dễ dàng để có thể tăng hoặc giảm dịch vụ theo nhu cầu  thực tế cao điểm và thấp điểm là một điểm cộng cho bản thân Microsoft Azure.  Điều này giúp cho các doanh nghiệp (DN) có thể xử lý được các vấn đề nan giải về chi phí đầu tư để có một hạ tầng lý tưởng theo kỳ vọng.

Thực tế, đầu tư máy chủ tại nước ngoài và thuê đường truyền là bài toán lớn nhất với mọi DN kinh doanh dịch vụ Game và thương mại điện tử. Microsoft Azure với Trung tâm dữ liệu có mặt tại hơn 100 quốc gia trên toàn cầu đã xử lý triệt để thách thức này của VTC Intecom. Ước tính, triển khai Microsoft Azure sẽ giúp tiết kiệm hơn 60% chi phí đầu tư và vận hành so với đầu tư hạ tầng truyền thống.

Cũng theo đại diện Intecom, điểm nổi bật nhất giúp VTC Intecom lựa chọn Microsoft Azure là vì quy mô dịch vụ của Microsoft trải rộng toàn cầu. Trong thực tế, các khu vực được VTC Intecom yêu cầu cung cấp dịch vụ khách hàng, thì đều được Microsoft triển khai dịch vụ ngay trong thời gian rất ngắn.

Lý do thứ hai là vì các nền tảng của Microsoft đều có giao diện khá thân thiện giúp VTC Intecom đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, không chỉ thời gian khi triển khai mà cả thời gian đào tạo sử dụng. Nhân sự của VTC Intecom chỉ cần nhận tài khoản và mật mã là có thể đăng nhập và sử dụng đồng thời triển khai Microsoft Azure ngay lập tức. Nhìn chung, triển khai Microsoft Azure giúp giảm tải việc đào tạo gần như 100%.

VTC Intecom lựa chọn Microsoft Azure cũng vì Azure đạt những tiêu chí về bảo mật cấp doanh nghiệp toàn cầu. Các chứng nhận ISO/ IEC 27001: 2005 (tiêu chuẩn an ninh thông tin quốc tế) xác thực rằng Microsoft đã thực hiện kiểm soát an ninh thông tin theo quy chuẩn quốc tế, bao gồm hướng dẫn và nguyên tắc chung để bắt đầu, thực hiện, duy trì và cải thiện quản lý an ninh thông tin trong một tổ chức.  Việc kiểm toán bao gồm cả Hệ thống quản lý bảo mật thông tin (ISMS) cho Azure - gồm có cơ sở hạ tầng, phát triển, hoạt động, quản lý, hỗ trợ và trong phạm vi dịch vụ. Chứng nhận do Viện tiêu chuẩn Anh (BSI) cấp.

“Về mặt pháp lý thì do Microsoft có văn phòng tại Việt Nam và có đối tác uỷ quyền triển khai nên chúng tôi khá thuận lợi về các thủ tục hành chính”, đại diện VTC Intecom khẳng định.  Đây cũng chính là lý do thứ ba và là lý do quyết định để VTC Intecom triển khai Microsoft Azure, điển hình của mô hình IaaS (hạ tầng như một dịch vụ).

Ngay từ khi thử nghiệm và đưa vào triển khai thực tế, VTC Intecom đã gặt hái ngay những kết quả khả quan từ Microsoft Azure. Do tính chất hết sức quen thuộc cộng với kinh nghiệm nhuần nhuyễn về các dịch vụ đám mây nên “Không mất thời gian để học hỏi, không cần chi phí đào tạo và nhân lực triển khai, chỉ nhận tài khoản là sử dụng và sử dụng hiệu quả” là điều mà các nhân sự phòng CNTT của VTC Intecom khẳng định sau khi quyết định sử dụng Microsoft Azure.

Trước đây, khi có các yêu cầu dịch vụ từ nước ngoài, VTC Intecom thường phải nghiên cứu về địa bàn, phân tích các giải pháp khả thi để triển khai kèm việc thuê bao đường truyền IDC quốc tế. Đây là bài toán kinh tế kèm kế hoạch nhân sự dài hạn nên phải cân nhắc kỹ lưỡng. Tuy nhiên, với mạng lưới trải rộng và có thể cung cấp dịch vụ trên hơn 100 quốc gia khắp toàn cầu, Microsoft Azure đã giúp VTC Intecom xử lý được bài toán cân đối kế hoạch nhân sự và chi phí IDC quốc tế. Trong thực tế, khi dùng Microsoft Azure, các yêu cầu dịch vụ từ khách hàng quốc tế tới VTC Intecom đã được xử lý 100%.

“Tuy chỉ mới triển khai ở giai đoạn một, nhưng VTC Intecom đã có thể nhìn nhận được những cơ hội lâu dài trong kỹ nguyên kỹ thuật số và đón đầu cuộc cách mạng Công nghệ lần thứ Tư. Nắm bắt đám mây để có được lợi thế thực sự về hiệu quả chi phí và vận hành, đưa ra được những dịch vụ thực sự chất lượng và an toàn là điều mà VTC Intecom hướng tới”, Ông Nguyễn Tiến Đạt kết luận.

QA

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Social TV - Cơ hội mới để truyền hình sống sót ?

Tóm tắt: 

Việc truyền hình “kết hôn” với Internet và các mạng xã hội diễn sẽ ra như thế nào, khi đó, quan điểm về truyền hình theo cách truyền thống sẽ phải thay đổi?

Việc truyền hình “kết hôn” với Internet và các mạng xã hội diễn sẽ ra như thế nào, khi đó, quan điểm về truyền hình theo cách truyền thống sẽ phải thay đổi?

Với Internet, khả năng kết nối mọi nơi (anywhere), vào bất kỳ lúc nào (anytime), với mọi nội dung (anything) và cho mọi khán giả (anybody) đang làm cho tư duy truyền hình 24/7 có bị lung lay? Và yếu tố này sẽ tác động như thế nào tới sự phát triển của truyền hình Việt Nam? Đó là những nhận định về Truyền hình xã hội (Social TV) - một xu hướng phát triển mới của truyền hình hiện đại.

Ngày nay, mọi người có thể xem các chương trình tivi trên Internet một cách dễ dàng

Social TV - Một cuộc cách mạng mới?

Social TV là một dạng thức truyền hình rất mới, đã phát triển ở một số quốc gia trên thế giới trong thời gian khoảng từ năm 2012 trở lại đây, thể hiện phổ biến trên nhiều mô hình cung cấp sản phẩm nội dung truyền hình gắn kết trực tiếp với giải pháp kỹ thuật hiện đại như: Apple TV, Roku TV, Amazon Fire TV...

Các sản phẩm này đảm nhận các vai trò không chỉ là giải pháp kết nối và lan tỏa tác phẩm điện ảnh- truyền hình lên Internet, đó còn là mô hình truyền hình mới cho phép lưu trữ dữ liệu, phát các nội dung trên nhiều thiết bị và chia sẻ nội dung với hệ thống máy tính thông qua kết nối không dây, đặc biệt là cá thể hóa nội dung truyền hình theo yêu cầu của từng đối tượng.

Tại Hoa Kỳ, kể từ năm 2014 đến nay, tất cả các sự kiện lớn như Oscars, Grammys, Super Bowl... đều đã xuất hiện trên các dạng thức Social TV khác nhau, cạnh tranh trực tiếp với các phương thức truyền hình truyền thống trong việc thu hút khán giả.

Còn ở nhiều nước khác trên thế giới, Social TV cũng phát triển rất mạnh mẽ như: giải pháp phát sóng truyền hình Ovee của hệ thống ITVS Châu Á đã cho phép tích hợp các phương tiện truyền thông khác với truyền hình trong đó khán giả truyền hình có thể vừa xem, vừa đưa ra phản hồi nhận xét trực tiếp.

Mô hình Social TV của đài TBS Nhật Bản (giới thiệu tại Hội nghị ABU Việt Nam 2014) cho thấy các game show, phim truyền hình được sản xuất theo mô hình 50/50, trong đó logic phát sinh phát triển của 50% tác phẩm là do khán giả quyết định thông qua một trang web trực tuyến.

Mô hình Google TV được ra mắt từ 2013, cũng đã cho thấy rằng chỉ từ một chiếc TV bình thường nhưng đã có thể kết hợp với chức năng Google Search để giúp người sử dụng tìm được những chương trình, kênh sóng truyền hình ưa thích. Mô hình Social TV của Google cho phép khán giả cùng một lúc vừa xem nội dung truyền hình, vừa lướt web hay kết nối mạng xã hội nhờ vào các trình duyệt như trên thiết bị di động hoặc tính năng “dịch đoạn phim đang chiếu theo thời gian thực”. Chắc chắn rằng, những tính năng sẽ được nâng cấp của Google TV giúp cho khán giả truyền hình không còn là người phải ngồi “thụ động” trước màn hình mà sẽ trở thành một cá nhân tương tác, kết nối trong một “mạng lưới” truyền hình kiểu mới.

Gần đây nhất, tại Triển lãm CES 2016 (Hoa Kỳ), dịch vụ truyền hình Internet Netflix hiện đang có mặt 130 quốc gia tuyên bố sẽ thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Những cạnh tranh trong lĩnh vực truyền hình mới này còn có sự tham gia của nhiều sản phẩm khác của VTV, FPT, Viettel, Mobifone.

Cuộc sống giải trí hiện nay đã khác xưa rất nhiều

Khi truyền hình “kết hôn” với mạng xã hội

Nhận thức của đài truyền hình theo cách cũ - tức là xếp khung chương trình hàng ngày vào các khe thời gian (timeslot) thích hợp, ưu tiên chương trình đinh để phát sóng trong khung giờ vàng (gold time) sẽ không còn phù hợp? Yếu tố này sẽ tác động như thế nào tới sự phát triển của truyền hình Việt Nam?

Như vậy, các dạng thức của Social TV làm thay đổi nhận thức của chúng ta về truyền hình ở những khía cạnh quan trọng:

- Nhận thức về sự đổi mới cả nội dung và hình thức, định dạng của sản phẩm truyền hình;

- Nhận thức về sự thay đổi quy trình, công nghệ sản xuất tác phẩm truyền hình, vai trò của nhà sản xuất, các phương thức sản xuất...;

- Nhận thức về những cơ hội mới mà truyền hình hiện đại: phương thức tiếp cận công chúng khán giả, những nhu cầu mới của công chúng, cơ hội phát triển thị trường truyền hình...;

- Nhận thức về vai trò mới, về tương lai của truyền hình trong sự phát triển của xã hội thông tin, trong những thách thức của các phương thức truyền thông hiện đại...

Những vấn đề trên chưa được đề cập, nghiên cứu một cách xác đáng ở Việt Nam. Thậm chí trong nội dung của các văn bản quan trọng là: Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020, Nghị định 06/2016/NĐ-CP quản lý cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh truyền hình... cũng chưa đề cập đến những vấn đề này.

Và những câu hỏi đặt ra

Mặc dù Social TV phát triển rất nhanh trong thực tế, nhưng khái niệm về Social TV lại khá mới mẻ trên cả lý thuyết và thực tiễn, rõ nhất là việc phản ánh khái niệm này tương đối phức tạp. Một số nhà nghiên cứu nước ngoài định nghĩa rằng, “Social TV là sự kết hợp giữa TV và mạng xã hội”, đó là sự kết hợp của truyền hình và phương tiện truyền thông xã hội, là cách để hàng triệu người hiện nay chia sẻ trải nghiệm truyền hình của họ với người xem khác trên phương tiện truyền thông xã hội.

- Social TV là gì, đặc điểm, tính chất của loại hình truyền hình hiện đại này? Sự ra đời, phát triển của Social TV tác động thế nào đến quy trình sản xuất truyền hình truyền thống và với những người sản xuất chương trình?

- Sự tác động của Social TV đến xã hội? “Cộng đồng trực tuyến” của mạng xã hội và sự hình thành lớp công chúng khán giả truyền hình mới sẽ diễn ra như thế nào?

- Những cơ hội, thách thức mà Social TV mang đến cho thị trường truyền thông nói chung, thị trường truyền hình nói riêng? Sự lo ngại về “tính chính thống”- những vấn đề bất cập của mạng xã hội liệu có thay đổi cùng với sự phát triển của Social TV?

- Vấn đề cần đặt ra đối với việc quản lý báo chí, áp dụng với Social TV? Hình dung trong tổng thể quy hoạch truyền hình toàn quốc có gì bất cập?

Bên cạnh đó, còn có thể đặt ra nhiều câu hỏi khác như: Sự kết hợp giữa TV với mạng xã hội (Facebook, Twitter, Piterest và Google+) được thể hiện như thế nào? Liệu Social TV thể hiện sự tương tác, liên kết giữa mạng xã hội với báo chí, phục vụ đời sống xã hội hiệu quả hơn? Social TV có cung cấp nhiều thông tin, cơ hội sản xuất nội dung mới? Social TV liệu có là môi trường mới lan tỏa nhanh hơn, sâu rộng hơn cho các sản phẩm truyền hình? Sự ra đời của các thế hệ truyền hình mới trước đó như truyền hình kỹ thuật số, truyền hình Internet, truyền hình IPTV, Multiscreen... tác động như thế nào đến xu hướng phát triển Social TV? Đó là những vấn đề cần được nghiên cứu và phân tích xác đáng./.

Nguồn: TS. Bùi Chí Trung/nguoilambao.vn

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Phát thanh Truyền hình

Vẫn còn chưa hiểu đúng về đăng ký, sử dụng và cung cấp tên miền quốc tế tại VN

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Hiện vẫn tồn tại quan niệm cho rằng đăng ký và sử dụng tên miền quốc tế tiện lợi hơn và không bị Nhà nước quản lý hồ sơ, thông tin đăng ký. Thực tế này dẫn đến rất nhiều vi phạm.

(ICTPress) - Hiện nay đang tồn tại quan niệm cho rằng đăng ký và sử dụng tên miền quốc tế tiện lợi hơn và không bị Nhà nước quản lý hồ sơ, thông tin đăng ký. Thực tế này dẫn đến rất nhiều vi phạm trong việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tên miền quốc tế trong thời gian qua.

Theo thông tin từ thanh tra chuyên ngành TT&TT sau khi đã thực hiện các đợt thanh kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên Internet cho biết, hầu hết các đối tượng bị thanh, kiểm tra là các tổ chức, cá nhân sử dụng tên miền quốc tế đều không nắm rõ các quy định của pháp luật về việc đăng ký, sử dụng tên miền quốc tế tại Việt Nam.

Theo quy định pháp luật hiện hành, “Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và tên miền quốc tế mà tổ chức quốc tế phân bổ cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam” (Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013). Theo đó, Chương III về Đăng ký và sử dụng tên miền quốc tế tại Việt Nam tại Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18/8/2015 của Bộ TT&TT quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet thì việc quản lý hồ sơ, thông tin về tên miền quốc tế, thông báo hoạt động, báo cáo đăng ký, duy trì phải báo cáo với Bộ TT&TT. Tức là các chủ thể đăng ký, sử dụng tên miền quốc tế phải tuân thủ các quy định pháp luật tương tự như các chủ thể đăng ký, sử dụng tên miền “.vn”.

Theo Cục thương mại điện tử và công nghệ thông tin (TMĐT&CNTT), Bộ Công thương hiện có hơn 500.000 doanh nghiệp (DN), trong đó số DN hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) chiếm 45% (khoảng 220.000 DN). Tuy nhiên, số lượng chủ thể báo cáo về việc sử dụng tên miền quốc tế tại Việt Nam trên website thongbaotenmien.vn chỉ có khoảng 153.228 tên miền. So với con số DN hiện nay đang hoạt động TMĐT thì số lượng chủ thể thông báo tên miền quốc tế còn ít. Nhiều các tổ chức, cá nhân đăng ký, sử dụng tên miền quốc tế không tuân thủ các quy định của Bộ TT&TT về sử dụng tên miền quốc tế như không thông báo hoặc thông báo thiếu thông tin, thông tin không chính xác với Bộ TT&TT theo quy định tại Điều 23 Luật CNTT. Mức xử phạt vi phạm hành chính với các hành vi này theo Điểm a Khoản 1 Điều 41 Nghị định 174/2013/NĐ-CP là từ 5 - 10 triệu đồng.

Đối với hành vi cung cấp dịch vụ tên miền quốc tế mà không đăng ký hoạt động, không đáp ứng một trong các điều kiện để trở thành nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam thì “án phạt” nặng hơn từ 50-70 triệu đồng theo quy định tại điểm b Khoản 5 Điều 41 Nghị định 174/2013/NĐ-CP.

Trong quá trình phối hợp phục vụ cho công tác xử lý vi phạm của các cơ quan cảnh sát điều tra gửi về Bộ TT&TT, cho thấy sai phạm đều tập trung vào nhóm chủ thể đăng ký, sử dụng tên miền quốc tế. Trong năm 2016, chỉ tính riêng số tên miền do cơ quan cảnh sát điều tra gửi về Bộ TT&TT, đã có hơn 30 trường hợp chủ thể sử dụng tên miền quốc tế có hành vi vi phạm trong khi số lượng tên miền  “.vn” có hành vi vi phạm tương tự bị phát hiện chỉ có vài trường hợp. Một số chủ thể sử dụng tên miền quốc tế có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một số khác có hành vi vi phạm về việc cung cấp thông tin trên mạng, thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp khi chưa có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có hành vi vi phạm bản quyền, ...

Riêng tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh, theo kết quả kiểm tra hoạt động tại các đại lý đăng ký tên miền quốc tế trên địa bàn TP HCM (ngày 02/12/2016) của Thanh tra Sở TT&TT TP. HCM, đa số các đại lý tên miền quốc tế không nắm được các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến quản lý, đăng ký, sử dụng tên miền quốc tế tại Việt Nam. Nhiều  đại lý miền quốc tế đứng tên chủ thể sử dụng tên miền để đăng ký thay cho chủ thể dẫn đến việc thông tin về chủ thể đăng ký sử dụng tên miền quốc tế được thông báo không chính xác hoặc không hướng dẫn các chủ thể đăng ký tên miền quốc tế thực hiện thông báo, cập nhật thông tin liên quan đến sử dụng tên miền quốc tế với Bộ TT&TT tại địa chỉ thongbaotenmien.vn. Thực tế hiện nay, rất nhiều đại lý không thực hiện quy định về xác thực hồ sơ tên miền quốc tế như đối với tên miền “.vn” dẫn đến tình trạng các chủ thể khi đăng ký sử dụng tên miền quốc tế không thực hiện nghĩa vụ thông báo hoặc thông báo thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ.

Trao đổi tại Hội nghị Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành TT&TT năm 2016, bà Phạm Đắc Mỵ Trân, Phó chánh Thanh tra Sở TT&TT TP.HCM cho biết “Trong năm 2017, Thanh tra Sở TT&TT TP.HCM sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng trên địa bàn TP. HCM, trong đó đặc biệt chú ý đến hoạt động đăng ký, sử dụng tên miền quốc tế tại Việt Nam ”.

Ngoài địa bàn TP HCM, trong thời gian tới, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật và thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật liên quan đến tên miền quốc tế sẽ được Bộ TT&TT đẩy mạnh, tăng cường tại địa bàn nhiều tỉnh, thành trên cả nước.

 Minh Anh

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Thời sự ICT
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
CNTT

Google tiết lộ “hành vi” người tiêu dùng Việt Nam 2016

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Việc tiếp cận khách hàng tiềm năng đúng thời điểm, đúng vị trí, và đúng khách hàng là công thức thành công trong kinh doanh hiện nay.

(ICTPress) - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển: “Tỷ lệ đóng góp của Internet vào tăng trưởng tương ứng với mức tăng số người sử dụng Internet. Điều quan trọng hơn, Internet tạo ra một phương thức sản xuất, cung ứng dịch vụ và quản lý mới”. 

 Tại sự kiện Ngày Internet Việt Nam với chủ đề “Sự đóng góp của nội dung số cho nền kinh tế Internet” được tổ chức ngày 21/12, đại diện cho Google tại Việt Nam đã chia sẻ những thông tin về hành vi người tiêu dùng tại thị trường Việt Nam và gợi ý để các doanh nghiệp (DN) phát triển kinh doanh trong thời đại Internet.

Ông Trung Chinh, Google Việt Nam mở đầu những chia sẻ cho biết trước đây công việc kinh doanh được khởi đầu bằng là tìm địa điểm cửa hàng, trang trí cửa hàng, quảng cáo, lên chương trình khyến mãi, quảng bá cho mọi người biết đến cửa hàng… Công việc kinh doanh theo quy trình này tốn nhiều thời gian. Tuy nhiên, thời đại Internet, quy trình này thay đổi, công việc kinh doanh bắt đầu từ trên mạng Internet mà không phải mở cửa hàng, mà ngay cả trong khi một công ty có cửa hàng rồi thì Internet đóng vai trò cực kỳ quan trọng là đưa khách đến với cửa hàng.

Internet còn là nguồn thông tin quan trọng nhất cho người tiêu dùng tìm hiểu sản phẩm. Theo một điều tra thị trường Việt Nam, 43% người được hỏi dùng Internet để  tìm hiểu sản phẩm. Trước đây người dùng đi xem sản phẩm ngoài cửa hàng, bây giờ người mua hàng tìm hiểu thông tin trên Internet. Đây là xu hướng DN cần quan tâm để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.

Theo khảo sát về số người mua sắm gần đây, có tới 73% số người sử dụng Internet mua sắm tìm kiếm thông tin trên Internet trước mua hàng, nên Internet là công cụ hỗ trợ người mua sắm ra quyết định mua hàng và lựa chọn sản phẩm. Công cụ tìm kiếm thông tin cũng đóng vai trò quan trọng, có tới  93% số người mua sắm sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm kiếm thông tin mua sắm. Trang web DN, trang mạng xã hội về cơ sở bán hàng cũng là một nguồn thông tin để tìm hiểu mua sắm nhưng không được người dùng truy cập nhiều. Trong số những người tìm kiếm thông tin để hỗ trợ người mua sắm mua sản phẩm, hàng hóa thì có tới 66% số người tìm kiếm thông tin giá. Do đó, DN cung cấp thông tin cho người tiêu dùng thì nên nhấn mạnh thông tin về giá. Người dùng cũng sử dụng thiết bị di động để tìm kiếm thông tin gấp 2 lần thiết bị để bàn.

Ngay cả khi đã đến cửa hàng mua sắm, khách hàng vẫn sử dụng smartphone để tìm hiểu thông, cụ thể có tới 82% số người mua sắm vẫn tìm hiểu thông tin nhờ smartphone thay cho việc hỏi nhân viên bán hàng. Theo đó, việc hỗ hỗ trợ người mua, trước trong và sau, và luôn luôn hiện diện trên Internet rất quan trọng.

Việc tiếp cận khách hàng tiềm năng đúng thời điểm, đúng vị trí, và đúng khách hàng là công thức thành công trong kinh doanh hiện nay. Theo phân tích của ông Trung, trước đây khi kinh doanh việc tiếp cận đúng khách hàng là đủ. Nhưng bây giờ cần đúng thời điểm, vị trí. Với sự phát triển của công nghệ định vị, smartphone đã có thể giúp DN tiếp cận đúng khách hàng, đúng địa điểm.

DN cũng cần phải tận dụng phát triển kinh doanh trên tất cả các điểm tiếp xúc như qua cửa hàng, thiết bị di động, mua bán trực tuyến, website, trang mạng xã hội và cả sử dụng các ứng dụng (app) để tiếp xúc khách hàng. Một chiến dịch tiếp thị số vừa mang lại khách hàng mua sắm trực tuyến và cả khách hàng đến cửa hàng.

Kết luận lại ông Chinh lưu ý ba điểm mà các doanh nghiệp cần quan tâm: Người tiêu dùng mua sắm hiện nay đều tìm hiểu trên Internet về hàng hóa sản phẩm. Theo đó, Internet là kênh quan trọng để khách hàng đến cửa hàng. Ngay cả khi khách hàng đến cửa hàng rồi vẫn dùng Internet, đặc biệt là smartphone để hỗ trợ ra quyết định mua sắm. DN khi lên kế hoạch marketing thì cần phải đánh giá đầy đủ hiệu quả trên các kênh khác nhau, đặc biệt không tách biệt doanh số bán hàng trực tuyến (online) và (offline).

Tại Internet Day 2016, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại đã nhấn mạnh Internet đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và tác động lan tỏa của Internet đến tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực khác cũng rất lớn.

Tuy chưa có thống kê chính thức nhưng theo một nghiên cứu, tỷ lệ đóng góp của Internet vào tăng trưởng tương ứng với mức tăng số người sử dụng Internet. Năm 2010, Internet đóng góp 4,7% vào GDP của Mỹ, 8,3% ở Liên hiệp Vương quốc Anh, 7,3% ở Hàn Quốc. Tính chung lại, với các nước OECD là 4,3% và 3,6% ở các nước đang phát triển. Đến năm 2016, con số này đã tăng lên 5,55% và 4,9%.

Ở Việt Nam, tốc độ phát triển và phổ cập Internet là khá cao. Theo khảo sát của các Tổ chức quốc tế, Việt Nam đứng thứ 16 trong top 20 quốc gia có số người sử dụng Internet với 49.064.000 người, chiếm 51,5% dân số. Trong đó, trên 60% là người trẻ - thế hệ quyết định tương lai của đất nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân để từ năm 2000 đến năm 2016 là trên 15% đứng thứ 3 trong số 20 quốc gia này (Số liệu tính đến 30/6/2016).

Ông Tuyển nhấn mạnh “Điều quan trọng hơn, Internet tạo ra một phương thức sản xuất, cung ứng dịch vụ và quản lý mới. Điều mà Mác đã từng khẳng định cách đây gần 2 thế kỷ rằng “Cái phân biệt thời đại kinh tế này với thời đại kinh tế khác không phải ở chỗ người ta sản xuất ra cái gì mà ở chỗ người ta sản xuất bằng cái gì, theo phương thức nào.

Không có sự phát triển của Internet, sẽ không có sự tăng trưởng vượt bậc của thương mại điện tử, sự tiến bộ trong dịch vụ logistics, cũng không thể xuất hiện xu hướng cá thể hóa DN và nền kinh tế chia sẻ. Không chỉ thế, tác độ lan tỏa của Internet đến tăng trưởng các ngành, lĩnh vực khác cũng rất cao, ở mức trên 30%”.

Minh Anh

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

Internet đang đổi thay xã hội thế nào?

Tóm tắt: 

Xét trong 3 năm vừa qua, số người sử dụng mạng xã hội đã tăng từ 49% lên 65% dân số, trong đó đã diễn ra sự chuyển dịch trong cách thức nhận thông tin...

Trung tâm nghiên cứu về truyền thông đại chúng của Italy, thành lập từ năm 1964 - mới công bố bản báo cáo thứ 13 với tiêu đề “Truyền thông đại chúng giữa giới tinh hoa và thường dân”.

Internet đang là công cụ truyền thông hữu hiệu của xã hội hiện đại. Ảnh minh họa

Đó là một công trình nghiên cứu quy mô, dẫn chứng rất nhiều dữ liệu cho thấy sự thay đổi nhu cầu trên thị trường truyền thông đại chúng Italy, và ở một mức độ nhất định, minh họa cho sự đổi thay đang diễn ra trong xã hội thời nay.

Nhu cầu công chúng đang thay đổi mạnh mẽ

Theo bản báo cáo đó, thì vô tuyến truyền hình tiếp tục là phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến rộng rãi nhất: 97,5% dân số ưa thích truyền hình hơn, lượng khán giả tăng trên 0,8% trong năm. Phát thanh cũng có vị trí cao không kém: thu hút 84,9% dân số.

Trong khi đó, mức độ phổ biến của những ấn phẩm trên mạng Internet nhích lên, lượng độc giả tăng hơn 2% trong năm. Mặt khác, lượng người đọc sách giấy giảm đi gần 4,3% trong năm, tổng số người đọc sách giấy hiện nay chỉ còn 47% toàn bộ dân số. Từ bỏ thói quen đọc sách giấy, lượng người đọc sách điện tử tăng không đáng là bao, chỉ hơn 1%, nhưng tổng số độc giả này chỉ chiếm 10% toàn bộ dân số. Mức tăng trưởng này có được là nhờ có thêm cơ hội tiếp cận mạng Internet: lượng người sử dụng mạng đã tăng 2,8% so với năm ngoái, cư dân mạng chiếm 73,7% toàn bộ dân số Italy (riêng trong giới trẻ dưới 30 tuổi, số người sử dụng Internet chiếm phần áp đảo, chiếm 95,9%).

Tính trong 10 năm gần đây, rào chắn kỹ thuật số đã bị dỡ bỏ khá nhiều, lượng người sử dụng Internet tăng 28,4% - nếu năm 2007 họ chỉ chiếm dưới phần nửa, thì nay đã lên ba phần tư toàn bộ dân số.

Vai trò của các phương tiện truyền thông mới

Từ những dữ liệu công bố trong báo cáo của Censis nổi lên vấn đề lớn: sự phổ biến nhanh chóng của mạng xã hội và dịch vụ miễn phí đang được khoảng 90% thanh niên sử dụng, nhanh nhất là Whatsapp (gửi và nhận tin nhắn tức thời mà không phát sinh chi phí tin nhắn) lượng người sử dụng tăng 61,3%, con số đó là 56,2% ở Facebook (cho phép mọi người kết nối với nhau mà không bị cản trở bởi khoảng cách địa lý), là 46,8% ở Youtube (chia sẻ video).

Những con số do Censis cung cấp góp phần hình dung tác động của các phương tiện truyền thông mới đến xã hội, mối quan hệ qua lại của các phương tiện truyền thông mới với giới tinh hoa. Censis nêu nhận xét, rằng các phương tiện kỹ thuật số “phi trung gian hóa” (disintermediation) đã chêm một cái nêm vào kẽ hở, chia rẽ giới tinh hoa và giới thường dân, lật đổ những hình thức khác nhau trong quan niệm vốn đã định hình về uy tín, tràn vào những hình thái luôn biến động của chủ nghĩa dân túy hay chủ nghĩa đại chúng, làm cho tính phi hệ thống và tính cực đoan lan truyền với nhịp độ rất nhanh ở Tây Âu.

Theo Censis, nguyên nhân của các dịch chuyển mang tính kiến tạo đang làm rung chuyển nền dân chủ phương Tây nằm ở Internet và phương tiện truyền thông mới. Ví dụ, những phương tiện truyền thông mới đã dẫn đến “những hình thức đa dạng của thói bàng quan, vô cảm” ở nhiều người, thậm chí ở cả trong giới “có học và đang làm việc”.

Trong công trình điều tra của mình, Censis có dẫn ra một hiện tượng: trong cuộc trưng cầu dân ý ở Anh về vấn đề Brexit, thanh niên thì lên mạng xã hội tỏ thái độ, đa số là không ủng hộ, song, trên thực tế chỉ một lượng không đáng kể người trong số họ đến chỗ bỏ phiếu. Vô cảm, dân túy, nổi dậy chống giới tinh hoa, lật đổ những uy tín, xung đột giữa cha mẹ và con cái... những biểu hiện không lành mạnh ấy tạo nên cảm giác là tất cả dường như đều phụ thuộc vào các phương tiện truyền thông mới.

Rất có thể chúng ta hơi cường điệu khi gán cho Internet vai trò dấy lên những xáo động xã hội, trong khi đó, Internet chỉ làm mỗi cái “tăng âm” cho những xáo động đó. Ngay như việc giảm nhiệt tình của giới trẻ trong các cuộc bầu cử, nó diễn ra đã từ lâu, có thể là vì phụ thuộc vào chỗ: giới trẻ không nhìn thấy ý nghĩa của việc tham gia cuộc chơi mà họ thường xuyên bị thua thiệt.

Cũng như vậy - nguyên nhân nỗi bất bình của họ phải tìm ngay ở mức độ thất nghiệp trong giới trẻ khá cao, tới khoảng 50%, chứ không phải ở sự “phi trung gian hóa”. Còn tâm thế lảng tránh chính trị và giải thiêng phải phụ thuộc vào sự bất lực của nền dân chủ đang ngự trị và các viện nghiên cứu của nó, họ đã không đưa ra được giải pháp phù hợp cho các vấn đề toàn cầu hóa.

Các phương tiện truyền thông mới đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa, nhưng những thay đổi đang diễn ra không thể được giải thích “chỉ tại Internet”. Vấn đề đó có bản chất phức tạp hơn rất nhiều./.

Ngọc Nhật Theo báo Il Foglio, Italy, 29/9/2016

Nguồn: nguoilambao.vn

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
CNTT

4G LTE thành công chỉ khi có giá cước phù hợp

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Giá cước cho các dịch vụ 4G LTE phù hợp sẽ là yếu tố quan trọng đầu tiên cho sự thành công 4G trong trung và dài hạn ở Việt Nam.

(ICTPress) - Giá cước cho các dịch vụ 4G LTE phù hợp sẽ là yếu tố quan trọng đầu tiên cho sự thành công 4G trong trung và dài hạn ở Việt Nam.

Đó là nhận định của Nhà phân tích TZong, chuyên gia cao cấp về thị trường và dịch vụ của hãng nghiên cứu Ovum, hãng tư vấn và phân tích độc lập chuyên về CNTT, Viễn thông.

Cụ thể, nhà phân tích Tzong nhận định các nhà khai thác viễn thông Việt Nam đang nỗ lực khai trương các dịch vụ 4G LTE, với việc VNPT Vinaphone là nhà mạng đầu tiên khai trương dịch vụ ở Phú Quốc và Viettel dự định triển khai toàn quốc vào quý 1 năm 2017. Trong khi mật độ độ phủ sóng là một sự khác biệt quan trọng, thì các dịch vụ LTE được định giá phù hợp sẽ là một yếu tố quan trọng hơn cho sự thành công trong trung vài dài hạn ở Việt Nam.

VNPT Vinaphone đã là nhà mạng đầu tiên khai trương thương mại dịch vụ LTE ở Việt Nam khi vào tháng 11 vừa qua đã chính thức công bố cung cấp dịch vụ tại Phú Quốc, Kiên Giang, hòn đảo có 100.000 dân số. Là nhà mạng có thị phần lớn thứ 3 ở Việt Nam, VNPT Vinaphone dự kiến triển khai 21.000 trạm BTS trên toàn quốc vào cuối năm 2017. Trong khi đó, Viettel là nhà mạng lớn nhất, đang triển khai một chiến lược khác  biệt và tham vọng hơn với việc sẽ khai trương thương mại dịch vụ đáp ứng 90 triệu dân trên toàn quốc vào quý 1 năm 2017.

Theo nhà phân tích Tzong đây là một tin tức đáng chú ý khi các nhà mạng Việt Nam đã quyết định sớm cung cấp dịch vụ 4G. Tăng trưởng thuê bao 3G ở Việt Nam đã chậm lại, với thị phần thuê bao 3G chiếm khoảng 30% thuê bao di động trong khoảng thời gian 1,5 năm vừa qua.

Các nhà khai thác viễn thông của việt Nam cần nắm bắt các cơ hội thu lợi nhuận từ các dịch vụ dữ liệu và nỗ lực giảm các chi phí để củng cố lại doanh thu nhắn tin thoại và văn bản và để cung cấp các dịch vụ mới và tốt hơn, chẳng hạn như các dịch vụ thoại qua LTE (VoLTE) và video HD trực tuyến, để giảm các thách thức từ dịch vụ OTT. Là quốc gia vừa tham gia vào “cuộc chơi” 4G, các nhà mạng Việt Nam sẽ hưởng lợi từ các chi phí mạng thấp hơn nhờ hệ sinh thái LTE đã chin muồi.

Mật độ bao phủ LTE rộng là một yếu tố quan trọng và là một khác biệt lớn trong triển khai mạng, nhưng điều quan trọng hơn đối với các nhà mạng viễn thông Việt Nam là cần phải định giá các dịch vụ LTE phù hợp. Việc triển khai LTE của các nhà mạng ở châu Âu cho thấy cả mật độ bao phủ rộng và việc định giá phù hợp là các yếu tố cần thiết cho tăng trưởng thuê bao. Tuy nhiên, yếu tố thứ hai quan trọng hơn yếu tố thứ nhất, nhà phân tích TZong nhận định.

Một số nhà mạng châu Âu có mật độ bao phủ mạng rộng đã cho thấy sự tăng trưởng thuê bao LTE khiêm tốn bởi vì việc định giá dịch vụ cao đã làm LTE không thu hút. Trong khi sự năng động của thị trường là khác nhau giữa các nước và các nhà mạng, các nhà mạng Việt Nam nên chú ý điều này và định giá dịch vụ với giá cả hợp lý, nhà phân tích Tzong cho hay.

Ở Trung Quốc, các thiết bị LTE được bán cho người sử dụng với giá chưa đến 50 USD, nhưng để 4G LTE phổ biến ở các thị trường có thu nhập trung bình trên thuê bao (ARPU) thấp nhưng ở Việt Nam và châu Âu, các smartphone LTE sẽ cần phải được bán với giá dưới 30 USD. Sự thống trị của các nhà phân phối thiết bị cầm tay ở Việt Nam, nơi người sử dụng phần lớn có thể mua điện thoại ở đây, có nghĩa là các nhà mạng Việt Nam cần phải đạt được một thỏa thuận với các nhà phân phối này để đảm bảo sự phổ cập các máy điện thoại LTE với giá cả phù hợp.

Nhận định về 3G tại Việt Nam, nhà phân tích TZong cho biết 3G sẽ song song đồng hành với LTE, các nhà mạng Việt Nam vẫn sẽ phát triển doanh thu từ các “tài sản” 3G hiện tại theo cách tốt nhất có thể, nhưng phần lớn sự chú ý của các nhà mạng và đầu tư sẽ tập trung cho 4G LTE, để khai thác cơ hội doanh thu tốt hơn từ các dịch vụ dữ liệu. Ovum dự báo vào năm 2021, Việt Nam sẽ có 65% thuê bao di động 3G và 22% thuê bao 4G, phần còn lại là 2G. Các thách thức ngắn hạn trên con đường 4G LTE đối với các nhà mạng Việt Nam là nhiều nhưng LTE cũng mang đến nhiều tiềm năng.

QM

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Viễn thông

Danh sách mã vùng điện thoại cố định của 59 tỉnh, thành phố

Tóm tắt: 

(ICTPress) - VNPT VinaPhone là nhà mạng chiếm tới hơn 90% thị phần thuê bao điện thoại cố định này cho biết việc chuyển đổi mã vùng sẽ thực hiện rất nhanh...

(ICTPress) - Thực hiện Quyết định số 2036/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, từ tháng 2/2017, 59 tỉnh, thành phố trên toàn quốc sẽ được quy hoạch chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định. VNPT VinaPhone là đơn vị đã khẩn trương thực hiện chỉ đạo này.

Đây là hoạt động nhằm đảm bảo kho số viễn thông được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với sự phát triển của thị trường, công nghệ. Đồng thời, việc chuyển đổi mã vùng sẽ giúp độ dài mã vùng được nhất quán, đáp ứng thông lệ quốc tế. Với quy hoạch mới, các tỉnh, thành phố liều kề sẽ được gom chung vào một nhóm mã vùng, giúp khách hàng dễ dàng tra cứu, lưu giữ số điện thoại cố định. Qua đó, tài nguyên viễn thông sẽ được tối ưu, mang đến nhiều lợi ích thuận tiện, dài lâu cho khách hàng.

Giai đoạn 1 của quá trình chuyển đổi mã vùng sẽ bắt đầu từ 11/2/2017, áp dụng cho 13 tỉnh thành phố. Giai đoạn 2 bắt đầu từ 15/4/2017 áp dụng cho 23 tỉnh, thành phố tiếp theo và giai 3 từ 17/06/2017 áp dụng cho 23 tỉnh, thành phố cuối cùng. Riêng 4 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình và Hà Giang được giữ nguyên mã vùng. Việc chuyển đổi sẽ diễn ra trong vòng một tháng cho mỗi giai đoạn.

Trong khoảng thời gian đó, khách hàng có thể dùng song song mã vùng mới hoặc cũ. Sau ngày 12/3/2017 của đợt 1, ngày 14/5/2017 của đợt 2 và 17/6/2017 của đợt 3, các tỉnh thành sẽ dùng mã vùng mới hoàn toàn.

Danh sách tỉnh thành chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định đợt 1
Danh sách tỉnh thành chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định đợt 2
Danh sách tỉnh thành chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định đợt 3

Riêng các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình và Hà Giang được giữ nguyên mã vùng.

VNPT VinaPhone là nhà mạng chiếm tới hơn 90% thị phần thuê bao điện thoại cố định này cho biết việc chuyển đổi mã vùng sẽ thực hiện rất nhanh và sẽ được thực hiện vào ban đêm để giảm thiểu tối đa sự bất tiện cho khách hàng.

VNPT VinaPhone đã có kinh nghiệm 2 lần đổi số cho mạng cố định và mạng di động, theo đó, VNPT đã chủ động lên kế hoạch chuyển đổi và hiện đã sẵn sàng thực hiện theo đúng lộ trình của Bộ TT&TT.

Trong lần đổi số tới đây, tất cả các phương án kỹ thuật cần thiết đều đã được VNPT VinaPhone thử nghiệm và sẵn sàng thực hiện khi đến thời điểm Bộ TT&TT yêu cầu. Ngoài thực hiện trên hệ thống của mình, VNPT cũng đã phối hợp với 13 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác đảm bảo việc đổi số sẽ được thực hiện nhanh chóng, không xảy ra bất cứ sự cố nào.

Đặc biệt, để giảm thiểu tối đa sự bất tiện cho khách hàng, VNPT đã tính tới nhiều phương án thực hiện và quyết định sẽ thực hiện vào ban đêm. Việc đổi mã vùng sẽ được thực hiện trong vòng khoảng 2h. Nếu phát sinh bất cứ nguy cơ nào ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ của khách hàng, VNPT sẽ khôi phục lại dịch vụ như cũ để đảm bảo khách hàng sẽ sử dụng dịch vụ bình thường trong sáng hôm sau. Các phương án kỹ thuật để đảm bảo không ảnh hưởng đến việc ghi/tính cước của hệ thống tổng đài và đáp ứng khả năng quay số song song theo mã vùng cũ và mới cũng đã sẵn sàng.

Ngoài ra, để hỗ trợ khách hàng tối đa, trước thời điểm đổi mã vùng VNPT sẽ tổ chức truyền thông việc đổi mã vùng đến khách hàng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua website của VNPT, qua Call Center, qua các đầu mối chăm sóc khách hàng và xây dựng ứng dụng hỗ trợ khách hàng nhận biết mã vùng…

Với sự chuẩn bị kỹ càng của VNPT nói riêng và tất cả các doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ điện thoại cố định nói chung, việc chuyển đổi mã vùng lần này sẽ diễn ra nhanh chóng và không gây quá nhiều bất tiện cho người dùng.

QA

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Tri thức chuyên ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Viễn thông

4 xu hướng cho truyền thông, tiếp thị hiện đại

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Chúng ta đã chuyển từ thế giới thông tin khan hiếm sang thế giới quá nhiều thông tin, từ sự làm việc độc lập “ốc đảo” sang làm việc trên mọi loại thiết bị... Theo đó, bạn cần “thấu hiểu” các thông tin đó.

(ICTPress) - Công nghệ đang làm thay đổi lớn đối với mọi mặt của cuộc sống, truyền thông và tiếp thị cũng nằm trong xu hướng đó. Chia sẻ tầm nhìn với báo giới Việt Nam về chuyển đổi kỹ thuật số trong ngành truyền thông và tiếp thị, Tổng giám đốc Truyền thông Microsoft châu Á  Andrew Pickup đã mong muốn truyền những thông điệp mong truyền thông hay chính mỗi doanh nghiệp cần nắm bắt để tạo ra những cơ hội mới.

Tổng giám đốc Truyền thông Microsoft châu Á Andrew Pickup chia sẻ tầm nhìn về Tiếp thị và Truyền thông hiện đại, hướng đến việc chuyển đổi kỹ thuật số trong ngành truyền thông

Là một chuyên gia có 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tiếp thị, ông Andrew Pickup bắt đầu chia sẻ với việc nhắc lại mô hình tiếp thị cũ để các doanh nghiệp (DN), thương hiệu đến với khách hàng: quảng cáo bằng báo in, phát thanh, truyền tuyến và viết những câu chuyện thú vị về các thương hiệu. Mô hình này đã tồn tại từ những năm 1950 cho tới nay. Và công nghệ hiện nay đang làm đột phá và bẻ gãy mô hình này.

Ngày nay mọi người đều có thiết bị di động sử dụng 24/7, 365 ngày và dùng nền tảng mạng xã hội nên không phải tìm hiểu các thương hiệu như trước đây. Hiện nay, đã hình thành những mô hình truyền thông mới thông suốt, khách hàng có thể tìm hiểu thương hiệu từ những người không quen biết. Công ty, người bán liên hệ với người mua dễ dàng mà không phải qua khâu trung gian là các nhà phân phối như trước đây. Khách hàng đi xem một bộ phim, đến nhà hàng, thử nghiệm một chiếc ô tô mà không đợi phải các nhà phân tích, phê bình đánh giá bộ phim… mà có thể tự thể hiện quan điểm của mình và ít bị ảnh hưởng bởi quảng cáo và PR hơn trước. Thế giới đã trở thành một mạng lưới kết nối các thiết bị, con người mà bạn không hề hay biết trước đó nhưng bạn tin tưởng.

Mô hình truyền thông mới

Điều này tạo ra thách thức cho công ty, thương hiệu nhưng cũng tạo ra các cơ hội cơ hội. Và như vậy, chúng ta không phải tiếp xúc khách hàng thụ động như trước đây, mà phải chấp nhận, "nuôi dưỡng" khách hàng tích cực, nhiệt tình, phấn khích và tuyên truyền về sản phẩm này. Chuyển từ mô hình cũ là tĩnh thành mạng lưới mang tính tích cực, động đang làm “phẳng” hóa các cơ quan, cơ cấu tổ chức, thúc đẩy sáng tạo và mang tới các ý tưởng mới.

Chúng ta đã chuyển từ thế giới thông tin khan hiếm sang thế giới quá nhiều thông tin, từ sự làm việc độc lập “ốc đảo” sang làm việc trên mọi loại thiết bị, kích thước thiết bị và khả năng. Theo đó, bạn cần “thấu hiểu” các thông tin đó. Những sản phẩm như Microsoft Azure… sẽ giúp các tổ chức “thấu hiểu” thông tin.

Với những thay đổi tích cực này, 4 cách thức cùng những giải pháp hỗ trợ và các trường hợp điển hình tại quốc tế, khu vực và Việt Nam mà truyền thông và DN có thể tham khảo để nắm bắt cơ hội, ông Pickup chia sẻ:

Cách thức bán và phân phối sản phẩm đã khác trước: Internet và điện toán đám mây (ĐTĐM) đã làm thay đổi cách bán và phân phối sản phẩm… Khách hàng mới có thể sử dụng Office, email... trên mọi thiết bị di động, ở mọi nơi, địa điểm, trên mọi nền tảng. Theo đó, công ty bán sản phẩm có thể tiếp cận những khách hàng mới, cung cấp cho họ sản phẩm miễn phí ban đầu, sau đó tiếp cận, hướng dẫn khách hàng khai thác tối đa sản phẩm đó. Office của Microsoft đã làm được điều này với việc được phân phối trên các nền tảng. Người sử dụng iPhone, iPad, thiết bị Android… đã tải 340 triệu lượt Office về sử dụng.

Lắng nghe khách hàng: Qua mạng xã hội, công ty, DN, hay chính truyền thông có cơ hội lắng nghe khách hàng rất nhiều. Doanh nghiệp có thể lắng nghe khách hàng trên tất cả các nền tảng xã hội và tổng hợp cảm xúc, tình cảm của khách hàng để nắm bắt sự hài long của khách hàng với sản phẩm, dịch vụ hay không.

Công nghệ và ĐTĐM đã thay đổi cách thức truyền thông và tiếp thị: Nếu nhìn vào mô hình trước đây doanh thu chủ yếu từ quảng cáo và nay đã chuyển sang mạng xã hội và thông qua các cơ chế tìm kiếm (search engine). Và khi doanh thu giảm sẽ tạo ra nhiều vấn đề. Hãy nhìn vào ngành báo chí Mỹ, chi phí nhiều nhất là con người. Số người làm trong lĩnh vực báo chí đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, với bất kỳ sự thay đổi nào cũng có cơ hội. Sự thay đổi này giúp cho các tổ chức và ngay chính Microsoft phải mang những câu chuyện trực tiếp tiếp cận khách hàng, để bổ trợ hình thức liên lạc với khách hàng là thông qua nhà báo, cơ quan báo chí.

Sử dụng ĐTĐM giúp khách hàng thành công: Trong 30 năm vừa qua Microsoft đã âm thầm xây dựng hơn 100 trung tâm dữ liệu DC trên toàn thế giới và hỗ trợ 100 thị trường. Bên trong DC sẽ hơn 1 triệu máy chủ. Và bên trong các máy chủ có hơn 30.000 tỷ dữ liệu, hình ảnh thông tin. Microsoft đã đầu tư 15 tỷ USD để xây dựng hơn 100 DC này bởi nhiều dịch vụ Office 365, Azure… 200 dịch vụ khác đều được cung cấp qua các DC này và các DC sẽ giúp, hỗ trợ của khách hàng bằng những nền tảng, giải pháp và dịch vụ đám mây quen thuộc như Office 365, Microsoft Azure, Windows Server, System Center, SQL Server, Dynamics… Microsoft đã và đang đồng hành cùng hơn 85% các công ty thuộc danh sách Fortune 500, tạo ra những mô hình vận hành hiệu quả.

Theo đó, không chỉ DN lớn mà DN và vừa, startups có thể tiếp cận ĐTĐM.  Một công ty khởi nghiệp vài năm trước phải xây dựng hạ tầng để xây dựng dịch vụ… nhưng bây giờ chỉ cần 15 phút và thẻ tín dụng đã có thể truy cập 1 cơ sở hạ tầng DC của Microsoft. Một ví dụ đáng chú ý là Câu lạc bộ bóng đá Real Madrid, đã có hơn 100 giải thưởng, trong đó có 11 lần Vô địch Champion Laguage, là 1 thương hiệu bóng đá. Câu lạc bộ này có 450 triệu cổ động viên trên toàn thế giới, tuy nhiên, sân vận động, 1 trong những sân lớn nhất chỉ chứa được 90.000 người và nếu có 450 triệu fan hâm mộ thì 9,99% không bao giờ có cơ hội "cảm nhận" được sân vận động đó. Làm thế nào để tạo ra được các đại sứ thương hiệu, hỗ trợ cổ động viên, kiếm doanh thu… Công nghệ đang thay đổi tiếp thị, tạo cơ hội cung cấp trải nghiệm cho những sự kiện như thế này. "Và Real Madrid đã hợp tác với Microsoft sử dụng ĐTĐM để đưa các thông tin phỏng vấn cầu thủ, các trận đấu, bình luận,… để truyền tải đến toàn thế giới tới bất kỳ đâu, màn hình nào…", ông Andrew cho biết.

Nói về bộ Microsoft Office 365, nền tảng công cụ năng suất đám mây, ông Andrew Pickup chia sẻ: “Hướng tới mục tiêu thông qua công nghệ, trao quyền cho mỗi người và mỗi tổ chức hiệu quả hơn, bộ Office quen thuộc với hơn 1.2 tỉ người trên hành tinh vẫn đảm trách tốt vai trò này. Dựa trên những trải nghiệm thân thiện của Office, Office 365 dựa trên nền tảng đám mây, hiện kế thừa và tiếp tục là nền tảng phổ cập để người dùng sáng tạo, giao tiếp và cộng tác dễ dàng hơn, phù hợp với mọi phong cách làm việc của xã hội hiện đại”.

Trong thế giới kỹ thuật số mới, đám mây sẽ là nền tảng để các DN mọi quy mô tạo ra tương lai kỹ thuật số của họ. Với một chiến lược phát triển đám mây riêng và đám mây công cộng độc đáo và dịch vụ SaaS (phần mềm như một dịch vụ), Microsoft được công nhận bởi Gartner, hãng tư vấn và nghiên cứu độc lập hàng đầu, là đơn vị duy nhất được lựa chọn đứng đầu trên 17 báo cáo Magic Quadrant của Gartner về xử lý vận hành đám mây của DN, bao gồm vị trí đầu bảng về Dịch vụ hạ tầng điện toán đám mây, dịch vụ lưu trữ trên điện toán đám mây và các dịch vụ nền tảng ứng dụng (Cloud Infrastructure as a Service, Cloud Storage Services và Application Platform as a Service).

Cũng chia sẻ về khả năng hỗ trợ chuyển đổi trong thời đại số, ông Hoàng Minh Chính, chuyên viên Microsoft Azure, Microsoft Việt Nam cho hay, “Trên thực tế, khi các tổ chức và DN chuyển đổi lên đám mây dù nhanh hay chậm, thì những giải pháp của Microsoft vẫn hỗ trợ tốt quá trình chuyển đổi, dù đó là hệ thống truyền thống hay các ứng dụng điện toán đám mây tiên tiến nhất.

“Không chỉ vậy, các giải pháp Microsoft giúp dữ liệu trở nên phong phú hơn nhờ phân tích và đưa ra những thông tin chuyên sâu, hỗ trợ việc tiếp cận được nhiều đối tượng trong thời gian ngắn nhất.  Mục tiêu của Microsoft là đưa lại những dữ liệu chuyên sâu từ siêu dữ liệu đến một tỷ người thông qua những công cụ sử dụng dễ dàng, có khả năng mở rộng và an toàn ở cấp độ DN”, Bà Hoàng Song Nga, Phụ trách giải pháp Đám mây và DN, Microsoft Việt Nam nhấn mạnh trong phần thuyết trình về nền tảng dữ liệu Microsoft, giải pháp được ghi nhận đứng đầu cả về mặt vận hành và tầm nhìn trong bảng báo cáo xếp hạng về ODMS của Gartner (Magic Quadrant for Operational Database Management Systems).

Ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Vietnam Plus chia sẻ những kinh nghiệm trong việc ứng dụng công nghệ tại báo và những khả năng công nghệ đã giúp tờ báo hiện đại, thu hút bạn đọc

Cụ thể hóa những thành công của mô hình triển khai công nghệ để sáng tạo và gặt hái thành công, ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập báo điện tử VietnamPlus đã chia sẻ những sáng kiến của báo trong chặng đường 8 năm. Nói về hợp tác cùng Microsoft, ông Lê Quốc Minh phát biểu: “Một trong những hợp tác điển hình là đi cùng MSN.COM của Microsoft. Đóng góp tâm huyết để cùng xây dựng phiên bản tiếng Việt của MSN, VietnamPlus tự hào vì đã và sẽ tiếp tục mang đến những trải nghiệm tốt hơn, hiện đại hơn cho bạn đọc Việt Nam”.

CMS MSN rất hiện đại, có những công cụ đo đếm, xem xét loại nội dung nào di chuyển vào đâu, bài báo nào được chú ý… có khả năng tích hợp toàn cầu nên rất phù hợp cho truyền thông hiện đại”, ông Minh cho biết thêm.

Minh Anh

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Nghề báo
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
Kinh tế chuyên ngành

Ngành Tài chính đào tạo cán bộ theo chuẩn tin học ICDL

Tóm tắt: 

(ICTPress) - ICDL là chuẩn quốc tế về kỹ năng sử dụng máy tính, là chứng chỉ tin học phổ cập nhất thế giới, được công nhận và sử dụng rộng rãi tại 150 quốc gia, với 41 ngôn ngữ...

(ICTPress) - Khóa học “Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin đạt chuẩn thông tư 03/2014/TT-BTTTT” dành cho hơn 100 cán bộ đang công tác tại các đơn vị thuộc Bộ Tài chính vừa chính thức được khai giảng đầu tháng 12 này. Khóa học được thực hiện bởi sự phối hợp giữa Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính và Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo NetPro (NetPro Academy).

Trường Bồi dưỡng Cán bộ Tài chính là một trong những đơn vị sớm triển khai việc đào tạo Chương trình đào tạo tin học quốc tế ICDL - Kỹ năng sử dụng CNTT đạt chuẩn thông tư 03/2014/TT-BTTTT nhằm chuẩn hóa trình độ CNTT cho đội ngũ cán bộ của ngành. 

Toàn cảnh buổi Khai giảng khóa học ngày 5/12/2016

Chương trình đào tạo theo chuẩn ICDL kéo dài 5 buổi, nội dung đào tạo giúp học viên hệ thống lại toàn bộ 6 kỹ năng tin học văn phòng cơ bản (Cơ bản về CNTT và truyền thông (ICT), cơ bản về mạng trực tuyến, Xử lý văn bản, sử dụng bảng tính, sử dụng trình chiếu, cộng tác trên mạng trực tuyến. Sau khóa học, học viên có đầy đủ các kiến thức để sẵn sàng tham gia kỳ thi lấy chứng chỉ quốc tế ICDL - Chứng chỉ tin học đạt chuẩn Thông tư 03 của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Sau khóa học, các cán bộ này sẽ tham gia kỳ sát hạch để lấy chứng chỉ tin học quốc tế ICDL. 

Toàn cảnh buổi khai giảng lớp 2 ngày 5/12/2016

Chứng chỉ quốc tế  kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin ICDL là chứng chỉ duy nhất được Bộ Thông tin và Truyền thông công nhận phù hợp đầy đủ với yêu cầu của Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT  theo thông tư 03/BTTTT (Theo công văn số: 3712/BTTTT-CNTT, ngày 13/11/2015).

Hiện nay, Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo NetPro (NetPro Academy) là Trung tâm khảo thí ICDL (ATC) duy nhất tại Việt Nam có chức năng khảo thí &  đào tạo cho các Cơ quan nhà nước và các Doanh nghiệp.

ICDL là chuẩn quốc tế về kỹ năng sử dụng máy tính, là chứng chỉ tin học phổ cập nhất thế giới, được công nhận và sử dụng rộng rãi tại 150 quốc gia, với 41 ngôn ngữ, hơn 24.000 trung tâm khảo thí ICDL và trên 14 triệu thí sinh tham dự và hơn 54 triệu bài thi đã được sử dụng.

ICDL là thước đo tiêu chuẩn, đánh giá một cách chuẩn xác và hiệu quả về kỹ năng  sử dụng CNTT của người thi. ICDL còn là thước đo độc lập, khách quan khi được xây dựng không phụ thuộc vào môi trường hay hệ điều hành cụ thể nào. ICDL chính là sự chuẩn hóa kiến thức về CNTT trong việc sử dụng máy tính và Internet một cách có nền tảng, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa để tiến tới việc công nhận lẫn nhau, phục vụ cho việc dịch chuyển lao động giữa các quốc gia.

QA

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Chuyển động ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
CNTT

Thái Lan áp dụng đăng ký SIM bằng công nghệ vân tay

Tóm tắt: 

(ICTPress) - Các ngân hàng và nhà mạng ngày càng được thúc giục tăng cường các tiêu chuẩn đối với hệ thống nhận thực khách hàng trong nỗ lực ngăn chặn gian lận...

(ICTPress) - Ủy ban Phát thanh và Viễn thông quốc gia Thái Lan (NTBC) đã thông báo các kế hoạch yêu cầu tất cả các nhà mạng nước này giới thiệu một hệ thống ID vân tay trực tuyến để đăng ký SIM di động trả trước và trả sau.

Cơ quan quản lý này đã ra hạn tạm thời cho các nhà mạng để thúc đẩy đăng ký ID vân tay bắt buộc, theo Bangkok Post.

Bắt đầu từ tháng 2/2017, xác thực vân tay sẽ là yêu cầu đối với đăng ký SIM di động ở Thái Lan

NTBC cho biết hệ thống này được thiết kế để tăng tính an ninh khi thực hiện giao dịch ngân hàng di động và giảm rủi ro gian lận khi Thái Lan tiếp tục tiến trình chuyển sang xã hội không tiền mặt.

Khoảng 14 triệu trong số 103 triệu thuê bao di động của Thái Lan đã đang sử dụng các dịch vụ ngân hàng di động, theo NTBC.

Cũng NTBC, trong khi các nhà mạng được yêu cầu triển khai một hệ thống đăng ký vân tay để bổ sung vào các hệ thống đăng ký SIM bắt buộc hiện tại của các nhà mạng. Các nhà mạng sẽ quét vân tay của từng người sử dụng và lưu thông tin trên server cơ sở dữ liệu của NTBC.

Hệ thống vân tay được khoa Kỹ thuật Đại học Kasetsart phát triển và đã trúng thầu cung cấp hệ thống này với trị giá 15 triệu baht (421.000 USD).

Các nhà mạng có thể giảm các chi phí triển khai hệ thống nhờ Quỹ vụ dịch vụ viễn thông công ích, chiếm khoảng 3,5% tổng doanh thu của các nhà mạng.

Các ngân hàng và nhà mạng ngày càng được thúc giục tăng cường các tiêu chuẩn đối với hệ thống nhận thực khách hàng trong nỗ lực ngăn chặn gian lận thông qua các hoạt động ngân hàng di động – gần đây đang là một trong những dịch vụ di động phổ biến nhất.

QM

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Chuyển động ngành
Các chuyên mục liên quan: 
Tri thức chuyên ngành
Viễn thông