Syndicate content

Chuyện dọc đường

Cuốn sách mang tính tự truyện của một thi sĩ, họa sĩ, hiền giả người gốc Liban

Theo truyền thuyết Á Đông, uyên ương là đôi chim yêu thương nhau thắm thiết, bay đi nơi đâu hay đậu lại chỗ nào cũng phải liền cánh. Khi một trong đôi uyên ương lìa đời, con còn lại cất tiếng kêu thương quạnh quẽ đến mỏi mòn nhỏ hết máu tim mình.

Sự tích này đã được đưa dẫn vào cuốn sách Uyên ương gãy cánh (The Broken Wings) của Kahlil Gibran – tác giả được xếp cùng với Shakespeare, Lão Tử trong nhóm ba nhà thơ có sách bán chạy nhất mọi thời đại.

Tác giả của Uyên ương gãy cánh - Kahlil Gibran – là một thi sĩ, họa sĩ, hiền giả người gốc Liban (Lebanon), một xứ sở nằm bên bờ Địa Trung Hải, trên phía bắc Israel, cạnh Thổ Nhĩ Kỳ và Syria. Ông là tác giả được đại chúng đọc nhiều nhất và được thảo luận rộng rãi nhất trong thế kỷ 20. Theo thống kê của giới xuất bản sách, Gibran là thi sĩ có số lượng độc giả đông vào hàng thứ ba, chỉ sau Shakespeare và Lão Tử. Danh tiếng và ảnh hưởng của ông vượt qua thế giới Ả Rập. Về mặt triết học, ông được xem như một triết gia đại chúng và là điểm hội tụ của tư tưởng Đông – Tây. Ký họa và tranh màu của Gibran được triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới.

Uyên ương gãy cánh như một khúc hoan ca rạo rực của một tâm hồn mới bắt gặp tình yêu và rồi trở thành tiếng thảm thiết tiếc nuối của một linh hồn vừa đánh mất người yêu, nghe như âm thanh thê lương của loài chim trong đôi bạn trống mái uyên ương khi con chim kia bỗng dưng gãy cánh.

Cuốn sách được xem là tiểu thuyết mang tính tự truyện duy nhất của tác giả Kahlil Gibran, cho thấy cơn thức tỉnh ngây ngất của tuổi xuân, những thị kiến buốt nhói trên con đường thành nhân, cùng những chiêm nghiệm sâu lắng về, tình yêu và sự bất tử.

Trong tác phẩm, tình yêu của Gibran và nữ nhân vật chính Selma Karamy người nữ nhân vật chính, là chân lý, cái đẹp, Thượng đế, là trọn vẹn xác hồn cùng sự sống của đôi lứa, là mọi sự trên trần thế, niềm tưởng tiếc khôn nguôi và lời hẹn hò son sắt tới quá bên kia cái chết. Tình yêu ở đây không hoàn toàn mang tính lý tưởng cao thượng tinh thần hoặc nhuốm mùi nhục cảm tục lụy nhưng nó kết hợp linh hồn, làm biến đổi tâm hồn và thăng hoa tâm linh của hai người yêu nhau.

Cuốn truyện Uyên ương gãy cánh đầy thi vị này sẽ còn nổi tiếng lâu dài vì nhiều yếu tố. Trước hết, là sự nhìn nhận giá trị của người nữ với lòng biết ơn sâu xa và thiện cảm chứa chan được tác giả dành cho thảm trạng của phụ nữ phương Đông. Trên nền tảng đó, xuất hiện nguyên cớ chính đáng để chứng minh vững chắc cho địa vị và tôn trọng triệt để các quyền của nữ giới vì “thân phận của phụ nữ là thân phận của dân tộc.” Bên cạnh đó, chuyện tình bất thành của Gibran và nàng Selma Karamy cũng làm nổi bật ý tưởng rằng giàu có là trở ngại lớn cho hạnh phúc.

Thêm nữa, Gibran phê phán quyết liệt lòng tham và sức mạnh thế tục của một số chức sắc tôn giáo, từng là tệ trạng kéo dài hàng trăm năm trước đây tại Liban, như một gợi nhớ tới những nơi có người dân đang sống trong mông muội tinh thần và túng thiếu vật chất.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã góp một bản dịch hay cho Uyên ương gãy cánh chia sẻ: Với những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt. Từ đó, người đang yêu đọc nó và mỗi sớm mai “Được thức dậy lúc rạng đông với con tim chắp cánh, đưa lời cảm tạ vì có thêm một ngày yêu thương nữa.”

Uyên ương gãy cánh nằm trong Tủ sách Triết lý - Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người của Omega Plus. Phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, sử dụng theo bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912. Sử dụng bộ tranh của chính Gibran.

Dự án Tủ sách Đời người đặt mục tiêu tinh tuyển tối thiểu 100 cuốn sách có giá trị trường tồn với các tiêu chí quen thuộc, phổ biến, dễ tiếp nhận đối với đại chúng, được hệ thống hóa nương theo nhu cầu của các thế hệ độc giả. Tủ sách hướng tới trở thành tủ sách cơ bản trong mọi gia đình Việt.

ND

Cuốn sách trả lời những câu hỏi về nhạc jazz

Ở Việt Nam, jazz cũng có rất nhiều câu chuyện riêng, kiến thức “nhập môn” riêng để khám phá, như người Việt chơi jazz ở Việt Nam là ai? Họ học chơi jazz ở đâu, bằng cách nào? Có thật là họ “chơi jazz” không? Nhạc jazz có từng bị cấm không?...

Những câu hỏi ấy sẽ được giải đáp trong “Chơi jazz ở Việt Nam: Quyền Văn Minh và nhạc jazz Hà Nội” - cuốn sách kể lại cuộc hành trình jazz ra đời ở Việt Nam, tập trung vào câu chuyện của nghệ sĩ Quyền Văn Minh - người đã tận hiến đời mình cho việc phát triển jazz ở mảnh đất quê hương, để thuật lại sống động cách mà nhạc jazz được nghe, được học và được biểu diễn ở nơi này.

Jazz - một thể loại âm nhạc bắt nguồn từ cộng đồng người châu Phi ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, đã lan ra khắp thế giới và hiện diện ở mọi nền văn hóa âm nhạc quốc gia. Nhạc jazz mang đậm tính nghệ sĩ, đầy nét đặc trưng và khiến những thính giả khi đã thích rồi sẽ như một kẻ si tình với nó.

Stan BH Tan-TangBau không chỉ là một nhà khoa học tận tuỵ mà còn có một tình yêu nhạc jazz và một tình cảm đặc biệt với người nghệ sĩ tiên phong nhạc jazz ở Việt Nam: Quyền Văn Minh. Một lượng lớn những câu chuyện trong cuốn sách “Chơi jazz ở Việt Nam: Quyền Văn Minh và nhạc jazz Hà Nội” được tác giả Stan tập hợp lại vào năm 2009 và từ năm 2012 - 2016. Trong quá trình thực hiện dự án này, nghệ sĩ Quyền Văn Minh đã chuyển cho Stan tất cả những bài báo và tạp chí, tài liệu cũ và bất cứ kỷ vật nào ông còn giữ được trong những năm tháng của cuộc đời âm nhạc.

Không phải một bài phỏng vấn tiêu chuẩn mà ta vẫn thường đọc trên báo chí, nội dung cuốn sách như góp nhặt từ những lần ngồi xuống tâm tình, hàn huyên cùng một người bạn đáng tin cậy, để từ chuyện đời mà nghe ra chuyện nhạc, chuyện jazz.

Nguồn tư liệu về nhân học

Mỗi câu chuyện trong sách phản ánh sự giao nhau giữa những trải nghiệm sống của cá nhân cùng âm quyển làm nên trong bối cảnh chính trị xã hội Việt Nam ở các giai đoạn khác nhau. Bởi vậy, ngoài khía cạnh âm nhạc, cuốn sách cũng được coi như nguồn tư liệu về chủ đề nhân học, xã hội học rất đáng tham khảo.

Bản nhạc số 1 bắt đầu với tuyên ngôn rằng jazz là một phần chính thức của âm quyển chính thống Việt Nam. Bản nhạc số 2 giới thiệu với độc giả cột trụ trung tâm của jazz ở Hà Nội, Minh’s Jazz Club.

Bản nhạc số 3 mang đến bối cảnh lịch sử mà nghệ sĩ Quyền Văn Minh sinh ra và lớn lên, cụ thể là cuộc Cách mạng Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai.

Bản nhạc số 4 mang đến một ngữ cảnh rộng hơn của jazz ở Đông Âu để giúp đưa ra một sự đánh giá nhạy bén hơn về sự giao nhau giữa văn hóa nghệ thuật và chính trị trong các chế độ xã hội chủ nghĩa suốt thời Chiến tranh Lạnh. Bản nhạc số 5 kể về duyên gặp gỡ thứ hai và thứ ba giữa nghệ sĩ Quyền Văn Minh với nhạc Jazz vào thập niên 1970.

Bản nhạc số 6 kể về sự trở lại của nghệ sĩ Quyền Văn Minh với nền âm nhạc chuyên nghiệp vào cuối thập niên 1970, dẫn đến một chuyến đi định mệnh tới Đông Berlin, điều củng cố quyết tâm chơi Jazz của ông ở Việt Nam.

Bản nhạc số 7 hé hộ những câu chuyện hậu trường về việc làm thế nào những buổi diễn trước công chúng đầu tiên của Quyền Văn Minh giới thiệu được âm thanh nhạc jazz tại Việt Nam vào năm 1988 và 1989.

Bản nhạc số 8 là một tường thuật chi tiết về buổi hòa nhạc của Quyền Văn Minh ở Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 12/4/1994, nơi công diễn ba sáng tác jazz nguyên bản của chính Quyền Văn Minh, đánh dấu sự khai sinh của jazz Việt.

Bản nhạc số 9 kể câu chuyện của Quyền Văn Minh khi là một giáo viên saxophone và jazz. Bản nhạc số 10 đưa ra một vài motif quen thuộc có thể nhận dạng trong sự phát triển của jazz ở châu Á, và có liên quan đến việc đánh giá đúng về nhạc jazz ở Việt Nam.

Bản nhạc số 11 xem xét những sáng tác jazz của Quyền Văn Minh cũng như những album ông đã thu âm như một nghệ sĩ jazz và một tay kèn saxophone. Bản nhạc số 12 về cơ bản là một độc thoại của Minh về cách ông nhìn nhận jazz club của mình như một nơi chốn để những nhạc công có thể học chơi jazz, bồi đắp sự tự tin để phát triển giọng điệu của riêng mình và đắm mình trong đam mê jazz. Bản nhạc số 13 tạm thời tóm tắt tình trạng nhạc jazz ở Việt Nam trong thế song hành với cuộc đời Quyền Văn Minh.

Tự sự của nghệ sĩ Quyền Văn Minh trong cuốn sách: Tôi tên là Văn Minh, trong “nền văn minh”, và họ tôi là Quyền, trong “quyền lợi”. Cho nên tôi nghĩ rằng tôi “có quyền sống một cuộc sống văn minh”. Tôi có quyền sống một cuộc sống phẩm giá và văn minh bất chấp những gian khó và thách thức trong hành trình chơi jazz của mình… Tôi có một giấc mơ, một giấc mơ chơi jazz ở Việt Nam. Vì jazz, tôi đã gặp nhiều gian khó. Vì jazz, tôi đã nhận nhiều hạnh phúc và vui thú. Giờ tôi đã nghỉ hưu ở nhạc viện. Đó là công việc của tôi với đất nước. Nhưng công việc của tôi với cây saxophone thì không bao giờ ngừng lại.

ND

Bộ phim về một Hà Nội mến thương

“Hoa nhài”, bộ phim truyện điện ảnh mới nhất của đạo diễn, NSND Ðặng Nhật Minh sẽ đại diện điện ảnh Việt Nam dự tranh giải Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội lần thứ VI (HANIFF) diễn ra từ ngày 8 đến 12/11 tại Thủ đô Hà Nội. Với khẩu hiệu “Ðiện ảnh-Nhân văn, Thích ứng và Phát triển”, HANIFF VI đã thu hút sự tham gia của 123 bộ phim đến từ hơn 50 nền điện ảnh trên thế giới, hiện diện ở các hạng mục tranh giải bao gồm 11 phim dài và 20 phim ngắn.

Ông giáo già dạy nhạc và cậu bé nông thôn trong phim “Hoa nhài”. (Ảnh Ðoàn phim cung cấp)

Phim “Hoa nhài” có những góc nhìn dung dị về một Hà Nội đời thường với những ngõ phố, những căn nhà giản dị; không hẳn là góc khuất, nhưng là một góc nhìn khác, không hoa lệ nhưng thấm đẫm tình người, sự tử tế, thanh lịch trong cách sống, nhân ái trong mỗi con người của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Những nhân vật trong phim, bằng số phận riêng của mình đã kể lại những câu chuyện đời sống, giản đơn mà nhân nghĩa.

Một cậu bé nông thôn ra Hà Nội đánh giày, được ông bà đồng hương cưu mang, những câu chuyện dở khóc, dở cười trên con đường mưu sinh của cậu bé khi chưa đủ tuổi thành niên. Cậu được bao bọc bởi tình thương của vợ chồng người cắt tóc vỉa hè, của ông giáo già dạy nhạc, của ngôi trường dạy nghề... Mỗi một tấm lòng nhân ái góp phần vun đắp tiếp những tấm lòng nhân ái, người với người sống để thương nhau.

Các nhân vật trong phim dường như quá đỗi bình thường, chẳng có gì nổi bật từ ngoại hình cho đến cách ăn mặc, hòa lẫn với dòng người trên phố đi bộ. Mỗi nhân vật đều gần gũi, như người hàng xóm vẫn gặp ngoài ngõ nhỏ. Diễn viên vào vai nhuần nhị, chỉ đọng lại ánh mắt trong sáng của người trẻ, cái nhìn thầm lặng, ấm áp của người già và một Hà Nội thương mến tình người dành cho nhau.

Phim không khiến người xem phải choáng ngợp hay đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác mà thẩm thấu một cách lặng lẽ, từ tốn, dần đưa người xem gặp lại những mong muốn thầm kín, những điều đã từng muốn làm và bâng khuâng một nỗi niềm nếu làm được thì cũng sẽ làm như một tất yếu nhân văn trong đời sống của tình người.

Ông giáo già cùng những bài học về âm nhạc đã đánh thức những xúc cảm sâu thẳm của người xem, nhất là đối với “người Hà Nội”. Lời giảng ân cần ông dành cho những học viên khuyết tật: “Nguyễn Ðình Thi là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Mỗi câu mỗi chữ đều có ý nghĩa. Hãy hát từng câu, từng chữ từ trong tim”. Ðây Thăng Long, đây Ðông Ðô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu! Gương mặt ông giáo già say đắm cùng những ngón tay gầy khô điêu luyện trên phím đàn. Hà Nội đẹp sao! Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng. Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng. Nhạc sĩ Tôn Thất Triêm vào vai ông giáo dạy nhạc đã hình tượng hóa những gửi gắm giản dị nhưng sâu sắc, bặt thiệp mà tài hoa của tác giả bộ phim. Một cốt cách, một khí chất Hà Nội được thể hiện rất thành công qua người diễn viên cũng rất đặc biệt.

 

Hà Nội trong phim còn những bộn bề ngổn ngang, mỗi nhân vật là một mảnh ghép trong dòng chảy cuộc sống: “Mấy lão già này lạc hậu bỏ mẹ”, “Tao đã chết đâu mà mày đòi chia gia tài”, “Ở nhà quê chẳng biết làm gì ra tiền nữa” hay “Thế thì chúng tôi biết đi đâu?”... Nhưng bên cạnh đó, hương hoa nhài vẫn lặng lẽ ngát thơm, nếp nhà mới xen lẫn nền nếp xưa trong tình thương yêu: “Con trai cũng như con gái”, “Thôi về đi, tôi không muốn mình vất vả”, “Thôi mình cứ giúp người ta, lúc nào họ có người mới thì mình về nhé”. Trong căn nhà thuê của vợ chồng người cắt tóc, những đồ vật cũ kỹ từ thế kỷ trước vẫn luôn có ấm trà pha sẵn nóng hổi của người vợ dành cho chồng, những lời thưa gửi thong thả, ân cần.

Bản nhạc Người Hà Nội vang lên như lời dẫn dắt từ trái tim, như mạch ngầm xuyên suốt, nối liền những mảnh đời khiêm nhường đã góp phần làm nên một Thăng Long-Hà Nội hơn một nghìn năm tuổi. Trường đoạn dàn đồng ca khuyết tật hát trọn vẹn đoạn nhạc: Ðoàn quân Việt Nam đi. Hà Nội say mê chen đón Cha về, kín trời phơi phới vàng sao. Ngày ấy chói vinh quang vang ngàn phương lời thề nước. Việt Nam yêu dấu ngả soi bóng sông Hồng Hà đã làm cảm xúc người xem trào dâng theo từng giai điệu và ca từ lắng đọng, góp phần tạo thêm sức mạnh và ý chí trong tình yêu Hà Nội, tình yêu đất nước, con người.

Ôi tha thiết lòng ta biết bao nhiêu! Mỗi tấc đất Hà Nội đượm thắm máu hồng tươi. Bộ phim “Hoa nhài” như tiếng lòng của người đạo diễn già, đã đi qua bao năm tháng cuộc đời, gửi lại cho khán giả một tình yêu đặc biệt của ông với điện ảnh, với con người.

Giai điệu bản nhạc “Người Hà Nội” ngân vang trong suốt bộ phim, “Hoa nhài” là một khúc ca sâu lắng của tâm hồn người Hà Nội, có thể coi như lời tạm biệt màn ảnh đầy tình thương mến của đạo diễn, NSND Ðặng Nhật Minh khi ông đã bước sang tuổi 84.

https://nhandan.vn/bo-phim-ve-mot-ha-noi-men-thuong-post723513.html

Giải bóng đá vi mạch Việt Nam mùa 3 nhiều dấu ấn

Ngày 6/11/2022, tại sân bóng Mễ Trì Thượng, đã diễn ra giải bóng đá vi mạch Việt Nam - khu vực miền Bắc. Đây là một hoạt động thường niên được tổ chức bởi Cộng đồng vi mạch nhằm tăng tính gắn kết các thành viên cộng đồng cũng như là dịp biểu dương lực lượng những người làm vi mạch ở khu vực miền Bắc.

Năm nay là năm thứ 3, giải được tổ chức và cũng là năm đầu tiên đánh dấu sự gia tăng về số lượng các đội bóng tham gia với tổng cộng 10 đội bóng, trong đó 9 đội đến từ các công ty: CoAsia, Dolphin, ETA, FPT Semiconductor, HCL, Qorvo, Toshiba, Viettel, Wavelet, và đội khách mời là các thầy cô giáo, nghiên cứu sinh đến từ các trường đại học: Bách khoa Hà Nội, Quốc Gia, Lê Quý Đôn, Giao thông Vận tải và Học viện Bưu chính viễn thông.

Giải đấu diễn ra vào tháng 11 cũng là mong muốn của Ban tổ chức để Cộng đồng vi mạch tri ân các Thầy, Cô giáo. Việt Nam đang đứng trước cơ hội vô cùng lớn để phát triển nhanh đội ngũ kỹ sư thiết kế vi mạch và điều đó sẽ không thể đạt được nếu thiếu công sức của các Thầy, Cô.

Sau 5 lượt đấu vô cùng kịch tính, tổng cộng 21 trận đấu với 32 bàn thắng được ghi và chức vô địch đã thuộc về đội FSEMI Semiconductor. Niềm vui như được nhân lên nhiều lần khi mới đây FPT Semiconductor cũng trình làng con chip thương mại hoá đầu tiên sử dụng trong lĩnh vực y tế./.

Thanh Yên

Tại sao độc giả trên toàn thế giới lại không ngừng yêu thích Ngôn sứ trong gần 1 thế kỷ qua?

Kahlil Gibran (1883-1931) là một nghệ sĩ, nhà thơ và nhà văn Liban. Ngôn sứ (1923) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Gibran, đại diện cho triết lý tư tưởng, nhân sinh quan và thế giới quan.

Đây là cuốn sách “gối đầu giường” của nhiều người, và đồng thời cũng là lý do chính giúp ông trở thành một trong ba tác giả có tác phẩm bán chạy nhất trong thơ ca thế giới. Cho đến nay, tác phẩm đã được dịch ra hơn 40 thứ tiếng, tái bản gần 200 lần, với hơn 100 triệu bản in.

Tại sao độc giả trên toàn thế giới lại không ngừng yêu thích Ngôn sứ trong gần 1 thế kỷ qua? Có lẽ bởi vì trong tất cả chúng ta, từ bản thân mỗi người và trong cuộc hiệp quần với tha nhân đều phát sinh các vấn đề và ai cũng mong mỏi tìm ra những cách giải quyết tối ưu.

Và tác phẩm này đã lần lượt giải quyết các vấn đề đó và đề xuất những “giải pháp” bằng cách biểu đạt thi ca nhuốm đầy tình người ấm áp và hương vị triết lý. Như trong phần mở đầu Ngôn sứ, dịch giả Nguyễn Ước viết rằng: Giữa trần gian, con người chẳng thể sống một mình; từ bản thân mỗi người và trong hiệp quần với tha nhân phát sinh các vấn đề, và chỉ có thể giải quyết đích thực chúng bằng cách sống nhân ái với trọn vẹn thể xác cùng tâm hồn chân chính của mình. Và Almustafa, ngôn sứ hóa thân của Kahlil Gibran trong The Prophet đã phát biểu về các vấn đề đó, theo chiều hướng đó, bằng hai mươi sáu bài thơ văn xuôi nhuốm đầy tình người ấm áp và hương vị triết lý. 

Cuốn sách bao gồm 26 bài giảng về các chủ đề: hôn nhân, con cái, cái đẹp, cái thiện, cái ác... của vị “ngôn sứ” trong khi ông chờ đợi để ra khơi về cố hương sau khi trải qua hàng chục năm lưu vong. Bối cảnh của Ngôn sứ là buổi chiều chia tay của Almustafa với dân thành Orphalese, những người chung sống trong yêu thương ông suốt 12 năm.

Trước khi lên đường trở về hòn đảo sinh thành, vị ngôn sứ ấy trả lời mọi câu hỏi được những kẻ đưa tiễn đặt ra cho ông. Chúng liên quan tới các chủ đề tình yêu và cái chết, lao động và khoái lạc, tự do và của cải, hôn nhân và tình bằng hữu, tôn giáo và lề luật... Và vì mọi đường lối giải quyết đều bắt đầu từ bên trong mỗi người nên Almustafa nói tới đời sống nội tâm, các cảm xúc và các niềm tin của con người sống trên đời, giữa đất trời và với Thượng đế. Tác phẩm này là một kết hợp tuyệt vời của thi ca và truyền thuyết thần bí, đã được đại chúng đón nhận không ngờ.

Theo Gibran, toàn bộ cuốn Ngôn sứ chỉ nói tới một điều duy nhất: Bạn lớn lao, cao cả hơn bạn biết – và Mọi sự đều tốt lành (You are far far greater than you know – and All is well). Dĩ nhiên mọi sự đều tốt lành, kể cả những yếu đuối và xui rủi của con người nếu mỗi người ứng xử trên nền tảng yêu thương trong mối quan hệ của con người với thiên nhiên và Thượng đế; và tình yêu ấy được Almustafa dùng làm yếu tố cốt lõi cho mọi lời giảng của ông. Trong Ngôn sứ, tình yêu là chân lý, thiện hảo và cái đẹp; tình yêu làm thăng hoa con người và tình yêu là chiếc bóng của Thượng đế trong mỗi người. Dịch giả Nguyễn Ước đã dịch.

Ngôn sứ theo nhận định của Gibran, không hẳn là tác phẩm văn học mà đúng hơn, là thông điệp tâm linh và nhân bản ông trao cho con người giữa cuộc đời. Thai nghén Ngôn sứ từ thuở còn là sinh viên ở Liban, Gibran mang hoài bão ấy đi theo ông suốt đời. Ông phác thảo nhiều lần bằng tiếng Ả Rập, và cuối cùng viết ra bằng tiếng Anh. Từ nhan đề dự tính ban đầu là Counsels (Lời khuyên), sau hơn mười năm trau chuốt để “mỗi chữ là một chọn lựa tốt nhất”, nó trở thành The Prophet, hoàn tất năm 1921 và được xuất bản tại Mỹ năm 1923.

Cuốn sách Ngôn sứ nằm trong Tủ sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người của Omega Plus. Sách sử dụng minh họa do chính tác giả vẽ, theo nguyên tác xuất bản lần đầu năm 1923.

Dự án Tủ sách Đời người đặt mục tiêu tinh tuyển tối thiểu 100 cuốn sách có giá trị trường tồn với các tiêu chí quen thuộc, phổ biến, dễ tiếp nhận đối với đại chúng, được hệ thống hóa nương theo nhu cầu của các thế hệ độc giả. Tủ sách hướng tới trở thành tủ sách cơ bản trong mọi gia đình Việt.

ND

Lần đầu tiên biểu diễn đại hợp xướng Vì hòa bình tại Việt Nam

Trong bối cảnh thế giới vừa trải qua những thời khắc đau thương của đại dịch Covid-19, nhằm góp tiếng nói thể hiện mong muốn chung về một tương lai tươi đẹp, hòa bình và hạnh phúc của người dân trên toàn thế giới, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam (VNOB) tiên phong đưa đại hợp xướng “Vì hòa bình - A Mass for Peace” về Việt Nam. Chương trình chính thức ra mắt khán giả vào tối 12 và 13/11/2022 tại Nhà hát Lớn, Hà Nội.

Các nghệ sĩ đang nỗ lực luyện tập để ra mắt đại hợp xướng “Vì hòa bình” tại Việt Nam. (Ảnh: VNOB)

“Vì hòa bình - A mass for peace” là tác phẩm của Karl Jenkins, nhà soạn nhạc đến từ xứ Wales. Tác phẩm được ra mắt vào năm 2000 và đã được biểu diễn hàng nghìn lần bởi các dàn nhạc và dàn hợp xướng lớn, nhỏ trên khắp thế giới.

Tuy nhiên, chưa bao giờ chương trình này được biểu diễn ở Việt Nam. Việc thực hiện đại hợp xướng “Vì hòa bình” của VNOB lần này có thể xem là nỗ lực của Nhà hát trong việc từng bước đưa khán giả trong nước tiếp cận với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm thế giới.

Chương trình có sự tham gia của nhạc trưởng Đồng Quang Vinh và các nghệ sĩ solist của nhà hát như ca sĩ Nguyễn Huy Đức, Trịnh Thanh Bình, Đào Tố Loan, Ngô Hương Diệp; cùng khoảng 200 nghệ sĩ, diễn viên của VNOB và bốn dàn hợp xướng quốc tế tại Việt Nam: Hà Nội Voices, Trường quốc tế Hà Nội Concordia, Thanh thiếu niên V-Art và Trường Erato Hà Nội.

13 chương nhạc đưa khán giả đến với nhiều miền cảm xúc khác nhau. Tác phẩm mở đầu bằng âm thanh của tiếng trống diễu hành trang nghiêm, tiếp nối với những mảng màu của sự hy sinh, mất mát cùng giai điệu trầm buồn, để rồi vang ngân âm hưởng tươi sáng của sự khởi đầu mới và khát vọng hòa bình…

 

Chia sẻ về chương trình, ông Phan Mạnh Đức, Giám đốc VNOB cho biết: “Đại hợp xướng "Vì hòa bình - A mass for peace” là một sự kiện nghệ thuật lớn ngợi ca hòa bình và khát vọng được sống trong hạnh phúc của người dân trên toàn thế giới. Vì vậy, dù gặp nhiều khó khăn trong việc đưa chương trình này lên sân khấu như về nhân lực, chuyên môn, trang thiết bị, thời gian luyện tập, ngôn ngữ… nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm, nỗ lực để tác phẩm được vang lên hùng tráng, như một thông điệp chung của chúng ta về một tương lai tươi sáng và khán giả Việt Nam có thêm cơ hội thưởng thức tinh hoa của nghệ thuật hàn lâm thế giới"…

Hiện tại, các nghệ sĩ đang gấp rút tập luyện và chuẩn bị cho sự ra mắt lần đầu tiên của đại hợp xướng “Vì hoà bình - A mass for peace” tại Việt Nam.

https://nhandan.vn/lan-dau-tien-bieu-dien-dai-hop-xuong-vi-hoa-binh-tai-viet-nam-post722900.html

Báo Lào hết lời ca ngợi du lịch Việt Nam

Mới đây, thời báo Laophattananews của Lào đã không tiếc lời ca ngợi sự phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch của ngành du lịch Việt Nam.

Theo trang Laophattananews, sau khi kiểm soát được tình hình và khống chế thành công đại dịch Covid-19, nhiều tỉnh, thành phố của Việt Nam đã nhanh chóng tập trung phục hồi ngành du lịch trong điều kiện thích ứng an toàn, linh hoạt, đồng thời vẫn đảm bảo các biện pháp phòng chống dịch nhằm phát triển kinh tế - xã hội.

Trang tin của Lào còn ca ngợi Việt Nam là một trong những quốc gia tiêu biểu của Đông Nam Á mở cửa đón du khách nước ngoài trở lại, nhờ đó ngành du lịch của Việt Nam đã phục hồi mạnh mẽ sau hơn 2 năm dịch bệnh. Minh chứng cho điều này, Laophattananews đã nói về bầu không khí nhộp nhịp cả ngày lẫn đêm, hoạt động giao thương sôi động của Hà Nội – thủ đô ngàn năm văn hiến của Việt Nam, đặc biệt là các tuyến phố sầm uất xung quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm.

Hà Nội là điểm đến được trang Laophattananews dẫn chứng về sự trở lại của du lịch Việt Nam sau đại dịch. Ảnh: Newsnpr

Ngoài ra, bài viết còn giới thiệu một số địa điểm du lịch nổi tiếng hay trải nghiệm khám phá về phố phường, đền chùa, thưởng thức ẩm thực Việt để giúp du khách hiểu biết thêm về đời sống hàng ngày của người dân địa phương.

Lào là thị trường tiềm năng của du lịch Việt Nam với nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông, văn hoá và nhu cầu của du khách. Trong 6 tháng đầu năm 2022, khi hai nước mở cửa du lịch quốc tế, Việt Nam đón gần 47.000 lượt khách Lào; khách Việt Nam đến du lịch Lào đạt gần 50.000 lượt, chiếm 28% tổng lượng khách quốc tế đến Lào.

Hợp tác du lịch Việt Nam - Lào đang từng bước phát triển với nhiều hoạt động hợp tác, liên kết phát triển sản phẩm, xúc tiến du lịch trong khuôn khổ song phương và đa phương; thu hút sự tham gia của các địa phương, cơ quan, hiệp hội, doanh nghiệp du lịch hai nước.

Nguồn: Đỗ An (Theo Newsnpr)/vietnamnet.vn

https://vietnamnet.vn/bao-lao-het-loi-ca-ngoi-du-lich-viet-nam-2071701.html

Triển lãm ảnh tôn vinh người phụ nữ Việt Nam

Chiều 18/10, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội), Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức lễ trao giải và khai mạc triển lãm ảnh nghệ thuật “Phụ nữ trong cuộc sống”, một cuộc thi dành cho các tác giả nữ và nêu bật vẻ đẹp của phụ nữ.

Tác giả Võ Thị Kim Cương (đứng giữa) nhận Huy chương Vàng của cuộc thi.

Chào mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 và kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2022), Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam phát động cuộc thi ảnh “Phụ nữ trong cuộc sống” từ ngày 29/8 đến ngày 20/9, nhận được 2.819 tác phẩm từ 274 tác giả ở 49 tỉnh, thành phố trên cả nước. Hội đồng giám khảo gồm các nữ nghệ sĩ nhiếp ảnh có chuyên môn và uy tín cao, từng đạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, như nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Thị Thu Đông, Nguyễn Hồng Nga, Đoàn Thi Thơ, Phan Thị Phương Hiền, Nguyễn Phúc Xuân Lê.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Hội nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam Trần Thị Thu Đông khẳng định: “Những hình ảnh tham gia cuộc thi đã khắc họa một bức tranh tương đối hoàn chỉnh về chân dung những người phụ nữ Việt Nam, những người bà, người mẹ, người chị, người em... đáng yêu và đáng kính trọng. Các tác phẩm được chọn trao giải và triển lãm có chất lượng nghệ thuật tốt, có tính thẩm mỹ cao và sự tìm tòi sáng tạo trong từng góc máy. Bộ ảnh bám sát chủ đề cuộc thi, ghi lại những khoảnh khắc đẹp và chân thực của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống đời thường và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nêu bật bản sắc phụ nữ từng vùng miền, tôn vinh vai trò của phụ nữ trong thời đại mới hội nhập và phát triển song vẫn giữ gìn những phong tục tập quán, giá trị văn hóa của người Việt Nam.”

Khách tham quan triển lãm tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.

Kết quả cuộc thi có 11 tác phẩm được trao giải, trong đó 1 Huy chương vàng được trao cho tác phẩm “Những sợi tơ công nghiệp” của tác giả Võ Thị Kim Cương (Bạc Liêu). Nữ nhiếp ảnh gia này cũng là gương mặt đóng góp nhiều bức ảnh chất lượng cho triển lãm, với đề tài và bối cảnh phong phú làm nổi bật nhân vật trung tâm là người phụ nữ, từ các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đại cho đến làng quê mộc mạc với nghề thủ công truyền thống trăm năm...

Tiếp đến là 2 Huy chương bạc thuộc về các tác phẩm: “Hạnh phúc của mẹ là con” của tác giả Phạm Thị Bích Thủy (Bắc Ninh) và “Thu hoạch hoa súng” của tác giả Bạch Thị Tố Anh (Thành phố Hồ Chí Minh); 3 Huy chương đồng thuộc về các tác phẩm: “Người phụ nữ Hà Nhì” của tác giả Trần Thu Hà (Hà Nội), “Phụ nữ H'Mông ở Tả Van Chư, Lào Cai” của tác giả Nguyễn Thị Nhã (Hà Nội) và “Hạnh phúc của mẹ” của tác giả Đỗ Quyên (Ninh Bình). Có 5 giải Khuyến khích được trao cho các tác phẩm: “Thể thao nữ” của tác giả Nguyễn Thị Đào (Thành phố Hồ Chí Minh), “Dây chuyền KCS” của tác giả Đỗ Thu Quyên (Phú Thọ), “Cô giáo em” của tác giả Nguyễn Thị Lý Giang (Hà Nội). “Phơi muối ớt tôm” của tác giả: Huỳnh Thị Lệ Hằng (Tây Ninh) và “Những nét vẽ tài hoa của nghệ nhân sơn mài làng Hạ Thái” của tác giả Nguyễn Thị Minh Hải (Hà Nội).

 

67 bức ảnh được trưng bày tại triển lãm là 67 khoảnh khắc đẹp và xúc động về người phụ nữ trong cuộc sống, được thể hiện qua những góc nhìn và thủ pháp nghệ thuật phong phú.

Phụ nữ Việt Nam hiện lên với tài năng, sự chăm chỉ, mạnh mẽ, đóng góp to lớn và truyền cảm hứng cho xã hội khi là người lao động, doanh nhân, trí thức, nghệ sĩ... Song chính họ cũng rất mực dịu dàng, nhân hậu, đảm đang với vai trò người mẹ, người vợ, người con trong gia đình. Với việc quy tụ nhiều nữ nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và không chuyên trên cả nước, đây là một sân chơi bổ ích cho chị em đam mê nghệ thuật nhiếp ảnh giao lưu, tìm nguồn cảm hứng sáng tác và giới thiệu tác phẩm của mình đến công chúng.

Triển lãm mở cửa từ nay đến hết ngày 25/10.

https://nhandan.vn/trien-lam-anh-ton-vinh-nguoi-phu-nu-viet-nam-post720587.html

Wanderlust: Việt Nam thuộc các điểm đến hàng đầu cho dịp năm mới

Tạp chí du lịch nổi tiếng Wanderlust của Anh vừa công bố Việt Nam là 1 trong 21 điểm đến hàng đầu cho dịp đầu năm mới. Đây là những điểm đến tốt nhất do Wanderlust bình chọn phù hợp cho bất cứ nhu cầu nghỉ dưỡng nào dù là kỳ nghỉ ngắn ngày hay dành cả tháng khám phá vùng đất mới.

Hội An, Việt Nam. (Ảnh chụp màn hình)

Theo Wanderlust, thời tiết trong tháng 1 tại Việt Nam tương đối dễ chịu, khô và nắng nhẹ. Đây cũng là thời điểm vãn khách du lịch sau kỳ nghỉ lễ Giáng sinh nên du khách sẽ có cơ hội trải nghiệm đất nước thong thả hơn.

Wanderlust đề xuất du khách nên dành nhiều thời gian hơn để có thể khám phá trọn vẹn vẻ đẹp của mảnh đất hình chữ S xinh đẹp. Du khách chắc chắn sẽ không bao giờ cảm thấy nhàm chán khi ghé thăm các thành phố đa sắc màu của Việt Nam: Hà Nội, Hội An, Huế, TP Hồ Chí Minh. TP Hồ Chí Minh cũng là địa điểm hoàn hảo cho những du khách đam mê trải nghiệm bằng xe đạp.

Việt Nam có thiên nhiên xinh đẹp trải đều trên khắp mọi miền đất nước. Du khách có thể tới chiêm ngưỡng hệ thống hang động lớn nhất thế giới - hang Sơn Đoòng. Bên cạnh Vịnh Hạ Long nổi tiếng, vịnh Lan Hạ ít được nhắc đến hơn nhưng không kém phần hấp dẫn và đều có thể tới thăm khi tới đảo Cát Bà. Tới đây, du khách có thể khám phá cuộc sống của loài voọc lông vàng quý hiếm. Một cảnh tượng cực kỳ khó gặp vì hiện chỉ có khoảng 100 con còn lại ở Vườn Quốc gia Cát Bà.

Ngoài Việt Nam, Wanderlust còn gợi ý những điểm đến lý tưởng khác trong tháng 1 là Nauy, Malé (Maldives), Slovenia, Lào và Sông Mê Công, Hill Country (Sri Lanka), Nam Cực (ngắm đàn chim cánh cụt con), Panama,….

Cộng đồng làm sạch bờ biển và Phát động cuộc thi “Sông sạch, Biển xanh”

Sáng Chủ nhật ngày 16/10/2022, Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tỉnh Nam Định, Huyện Đoàn Giao Thủy và các bên liên quan tổ chức Sự kiện Cộng đồng làm sạch bờ biển và Phát động cuộc thi “Sông sạch, Biển xanh” tại khu vực bờ biển xã Bạch Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Sự kiện này là hoạt động tham gia chương trình Làm sạch bờ biển quốc tế (viết tắt là ICC) được Tổ chức Bảo tồn Đại dương (Ocean Conservancy) khởi xướng hơn 30 năm trước đây tại Mỹ và hiện được thực hiện ở hàng trăm nước trên toàn cầu. Hoạt động ICC đã được Trung tâm MCD phổ biến và thực hiện tại Nam Định từ hơn 10 năm qua. Đồng thời, đây là sự kiện hưởng ứng phong trào Chống rác thải nhựa ra đại dương do Thủ tướng Việt Nam phát động ngày 9/6/2019 và góp phần thực hiện kế hoạch hành động của Việt Nam và của tỉnh Nam Định về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Phát biểu về sự kiện này, bà Hồ Thị Yến Thu, Phó Giám đốc thường trực Trung tâm MCD cho biết “Hoạt động cộng đồng làm sạch bờ biển được MCD hỗ trợ các địa phương tổ chức thường niên tại các vùng ven biển và hải đảo, nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng dân cư và các bên liên quan ở vùng ven biển trong những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp, từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm và thúc đẩy hành động của mỗi người trong giảm thiểu rác thải biển, bảo tồn hệ sinh thái và môi trường biển.

Cũng tại sự kiện này, Trung tâm MCD phối hợp với Sở TN&MT tỉnh Nam Định và Huyện Đoàn Giao Thủy phát động cuộc thi “Sông sạch, Biển xanh” nhằm tăng cường hiểu biết về quản lý rác thải trên dòng chảy và các giải pháp, công cụ tăng cường hiệu quả thu gom, phân loại và xử lý rác thải ven và trên sông Hồng, tỉnh Nam Định. MCD tin rằng, chuỗi hoạt động này sẽ đóng góp một cách tích cực và hiệu quả cho việc thúc đẩy thực hiện KHHĐ về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030”.

Tham dự sự kiện có các đại diện của Sở TN&MT Nam Định và các đơn vị Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng biển, Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu; đại diện UBND huyện Giao Thủy, Phòng TN&MT huyện Giao Thủy, Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy; Huyện Đoàn Giao Thủy; các cơ quan đoàn thể huyện Giao Thủy, UBND xã Bạch Long; các đơn vị truyền thông, báo chí và trên 200 tình nguyện viên là thanh niên, học sinh và cộng đồng địa phương. Các số liệu và thông tin thu được từ hoạt động Cộng đồng làm sạch bờ biển sẽ đóng góp cho bộ cơ sở dữ liệu toàn cầu về ICC.

Ông Phan Văn Phong, Phó giám đốc Sở TN&MT tỉnh Nam Định chia sẻ: “Sở TN&MT tỉnh Nam Định rất vinh dự là đầu mối hợp tác cùng MCD thực hiện nhiều dự án, hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ môi trường tại tỉnh Nam Định. Chúng tôi trân trọng cảm ơn các nỗ lực của MCD và sự ủng hộ của các nhà tài trợ đối với tỉnh Nam Định, đặc biệt là các hoạt động dành cho cộng đồng như tăng cường năng lực và truyền thông. Chúng tôi hi vọng rằng sự kiện này sẽ thu hút sự quan tâm, thúc đẩy hành động của các cơ quan, đoàn thể và cộng đồng về các vấn đề liên quan đến môi trường nói chung và rác thải nhựa đại dương nói riêng và góp phần thực hiện Kế hoạch số 11/KH-UBND ngày 04/02/2020 của UBND tỉnh Nam Định hành động về và quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030”.

Trao đổi về sự kiện này, ông Bùi Thanh Thùym Bí thư Huyện Đoàn Giao Thủy, cho biết: “Tình trạng rác thải tại bãi biển xã Bạch Long, huyện Giao Thủy đang là vấn đề nhức nhối. Rác thải từ nhiều nguồn như từ đất liền theo dòng chảy từ sông ra biển, từ ngoài biển dạt vào và cũng do các hoạt động của cộng đồng dân cư sinh sống tại nơi đây. Chúng tôi tin rằng hoạt động Cộng đồng làm sạch bờ biển và cuộc thi Sông sạch biển xanh sẽ giúp cộng đồng nhân dân và các đoàn viên thanh niên Giao Thủy có nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm giữ gìn vệ sinh môi trường và thúc đẩy thực hành việc thu gom, phân loại rác thải và không xả rác ra biển, đại dương”. 

Hoạt động này diễn ra trong khuôn khổ dự án “Giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa trên sông Hồng’’ do Tổ chức Bảo tồn đại dương (Ocean Conservancy) tài trợ, và sáng kiến bổ trợ “Thanh niên tiên phong trong nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động cho các bên liên quan và cộng đồng về giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa khu vực sông biển tại Nam Định”do công ty DOW Việt Nam tài trợ, và Trung tâm MCD chủ trì thực hiện phối hợp với Sở TN&MT và các địa phương và cơ quan liên quan tại Nam Định. 

 ND