Syndicate content

Thời sự ICT

Sự kiện ATTT lớn nhất 2019: “Nâng tầm An toàn, An ninh mạng quốc gia trong kỷ nguyên số”

Sự kiện thường niên lần thứ 12, do Hiệp hội ATTT Việt Nam (VNISA) chủ trì, phối hợp với Cục ATTT (Bộ TT&TT) và Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng (Bộ Quốc phòng) tổ chức, dưới sự bảo trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT).

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng, Chủ tịch VNISA phát biểu

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng, Chủ tịch VNISA cho biết: Hội thảo năm nay có Cục trưởng Cục Tiêu chuẩn hoá của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) tham dự trình bày những quan điểm, định hướng, khuyến nghị và đánh giá về xếp hạng ATTT của Việt Nam.

Thứ trưởng cũng nhấn mạnh đảm bảo ATTT giống như việc quan tâm đến y tế dự phòng theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Để làm được việc này thì nhận thức rất quan trọng, tránh “việc nước đến chân mới nhảy”. Hội thảo – triển lãm và các sự kiện liên quan được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức, tăng cường công tác đào tạo… bảo đảm ATTT. Từ nhận thức sẽ có những hành động cụ thể.

Ông Vũ Quốc Thành, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VNISA cho biết: Hiện nay, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đẩy mạnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số. Bởi vậy, phát triển năng lực quốc gia về an toàn, an ninh mạng là điều kiện tiên quyết để xây dựng Chính phủ điện tử, xây dựng kinh tế số, phục vụ hoạt động của nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Tổ chức với một quy mô lớn nhất từ trước đến nay, Hội thảo năm 2019 lấy một chủ đề lớn, bao trùm, thể hiện khát vọng của những người làm ATTT “Nâng tầm An toàn, An ninh mạng quốc gia trong kỷ nguyên số” (Enhancing national cybersecurity in the digital era), tổ chức vào ngày 29/11/2019, tại Hà Nội.

Đây sẽ là một diễn đàn quan trọng cấp quốc gia, là sự kiện nổi bật nhất về an toàn, an ninh mạng trong năm 2019 tại Việt Nam”, ông Vũ Quốc Thành nhấn mạnh.

Nội dung Hội thảo tập trung phân tích tầm nhìn, định hướng của chính phủ về tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng tại Việt Nam; chính sách, thực trạng, nhu cầu ứng dụng và phát triển công nghệ ATTT và giải pháp nâng cao thứ hạng về an toàn, an ninh mạng của Việt Nam.

Toàn cảnh buổi gặp mặt báo chí nhân ngày ATTT Việt Nam

Chương trình Hội thảo gồm phiên Toàn thể vào buổi sáng và 02 phiên Chuyên đề vào buổi chiều, với gần 30 bài phát biểu, tham luận của Lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, an ninh mạng; các nhà quản lý, chuyên gia cao cấp về ATTT của các công ty lớn trong và ngoài nước.

Một số điểm nhấn trong Phiên toàn thể buổi sáng:

Phiên 1. An toàn, an ninh mạng cho phát triển quốc gia số sẽ có sự tham dự và phát biểu của chuyên gia cấp cao Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) đánh giá Chỉ số và tư vấn nâng cao chỉ số ATTT Việt Nam; lãnh đạo cơ quan an toàn, an ninh thông chính phủ Phần Lan chia sẻ về kinh nghiệm đảm bảo ATTT cho phát triển chính phủ số tại Việt Nam; và trình bày chỉ số An toàn, an ninh mạng Việt Nam.

Phiên 2 (tọa đàm) về chủ đề "Nâng cao năng lực ATTT Việt Nam: Chính sách, giải pháp và kinh nghiệm quốc tế", dưới sự chủ trì của Lãnh đạo Cục ATTT và sự tham gia của các doanh nghiệp CNTT, ATTT lớn của Việt Nam và nước ngoài, bao gồm: 03 Tập đoàn, tổng công ty lớn của Việt Nam là VNPT, CMC, FPT-FIS và 02 công ty về ATTT đa quốc gia là McAfee và Fortinet

Lãnh đạo Chính phủ bấm nút khai trương Hệ thống Giám sát ATTT phục vụ Chính phủ điện tử do Cục ATTT, Bộ TT&TT, triển khai và phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo.

Phiên 3 về chủ đề An toàn, an ninh mạng cho hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia với các báo cáo mạng của 03 công ty công nghệ hàng đầu của Việt Nam và nước ngoài, bao gồm: An ninh mạng Viettel, Amazon Web Services, Huawei…

Buổi chiều sẽ có hai phiên chuyên đề: An toàn, an ninh mạng để phát triển Chính phủ số do Cục ATTT - Bộ TT&TT, Bộ Tư lệnh 86 và VNISA chủ trì. Nội dung tiếp theo về Bảo vệ dữ liệu và phòng chống tấn công trên không mạng do Ban Cơ yếu Chính phủ và Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm công nghệ cao - Bộ Công an chủ trì.

Hội thảo - triển lãm dự kiến thu hút hơn 700 đại biểu, với sự tham gia của Lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành trung ương và địa phương; các tổ chức, doanh nghiệp, chuyên gia CNTT, ATTT của Việt Nam và nhiều tập đoàn lớn về công nghệ thông tin hàng đầu trên thế giới.

Các hoạt động bên lề Hội thảo

Tại địa điểm diễn ra Hội thảo, Ban tổ chức còn triển khai các hoạt động:

Khu vực Triển lãm: giới thiệu giải pháp, công nghệ của các tập đoàn, doanh nghiệp hàng đầu về CNTT, ATTT trong và ngoài nước với 25 gian hàng.

Khu trình diễn công nghệ ATTT (Hacker Street) dành riêng cho các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các kỹ sư về ATTT giới thiệu, trình diễn các giải pháp, công cụ mới nhất về bảo mật, ATTT với khách mời Hội thảo (trong khu vực 180m2).

Dự kiến sẽ có khoảng 15 bài trình bày của các chuyên gia hàng đầu về ATTT cũng phần trình diễn, giới thiệu trực quan sinh động về các giải pháp bảo mật, ATTT; giới thiệu và trình diễn về cấu hình và quản lý ATTT cho điện toán đám mây.

Tọa đàm B2B Israel và Việt Nam: trao đổi cơ hội hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước, nhằm tạo điều kiện kết nối giữa các doanh nghiệp Việt Nam với 12 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ATTT mạng hàng đầu của Israel.

Thi Chung khảo “Sinh viên với ATTT ASEAN 2019” : Gồm 12 đội thi Việt Nam xuất sắc nhất trong vòng thi Sơ khảo và 05 đội thi từ các nước ASEAN.

Lễ Tổng kết cuộc thi, trao phần thưởng của Bộ TT&TT, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho các đội đoạt giải cao được tổ chức tại Phiên bế mạc Hội thảo.

Lễ vinh danh các sản phẩm, dịch vụ ATTT Việt Nam được bình chọn năm 2019, với 03 danh hiệu: “Sản phẩm ATTT chất lượng cao”, “Sản phẩm ATTT mới xuất sắc” và “Dịch vụ ATTT tiêu biểu” diễn ra trong Phiên toàn thể của Hội thảo.

Cũng trong chuỗi sự kiện, một Hội thảo - triển lãm sẽ được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh do Chi hội ATTT phía Nam thuộc VNISA và Sở TTTT TP. HCM tổ chức vào tuần sau. 

Lan Phương/ictvietnam.vn

 

7,5 triệu người Việt sẽ buộc phải chuyển đổi việc làm trong 10 năm tới

Khoảng 60% người lao động tại các quốc gia như Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi cuộc CMCN 4.0. Riêng tại Việt Nam, khoảng 7,5 triệu người sẽ phải dịch chuyển công việc vào năm 2028.

Sáng 12/11, tại Hà Nội, Viện Chiến lược Thông tin & Truyền thông (Bộ TT&TT) đã tổ chức buổi hội thảo quốc tế với nội dung xoay quanh chủ đề phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực TT&TT. Hội thảo có sự tham dự của khoảng 40 đại biểu là các chuyên gia trong nước và quốc tế, đại diện các bộ, ngành, doanh nghiệp, viện nghiên cứu.

Hội nghị được tổ chức nhằm thiết lập một diễn đàn chung cho đại diện các nước thành viên ASEAN. Đây là nơi mà cơ quan hữu trách các nước ASEAN có thể ngồi lại và chia sẻ với nhau về các hiện trạng, để rồi từ đó đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực ICT.

Hội thảo về phát triển nguồn nhân lực ICT cho các nước ASEAN khai mạc sáng 12/11 tại Hà Nội. Ảnh: Trọng Đạt

Hoạt động này là một phần trong khuôn khổ dự án hợp tác ASEAN nhằm tăng cường nhận thức và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc thu hẹp khoảng cách giữa cung và cầu nguồn nhân lực ICT trong khu vực, góp phần đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, sáng tạo và chuyển giao công nghệ giữa các nước thành viên ASEAN. 

7,5 triệu người sẽ chuyển đổi việc làm do sức ép của CMCN 4.0

Theo báo cáo mới nhất của Viện Chiến lược TT&TT, người lao động tại các quốc gia thuộc khu vực ASEAN đang phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm do sự phát triển nóng của CMCN 4.0. Dễ bị tổn thươnng nhất là nhóm lao động giản đơn có kỹ năng thấp. 

Là khu vực nổi tiếng với nguồn lao động giá rẻ khổng lồ, tuy nhiên có một thực tế là người lao động các nước ASEAN rất dễ bị thay thế bởi sự phổ biến của robot tự động hoá. Trong số này có tới hơn 60% số người lao động tại các quốc gia như Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam.

Tỷ lệ người lao động tại các nước ASEAN gặp rủi ro khi công việc của họ dễ bị thay đổi do số hoá.

Riêng tại Việt Nam, những dự đoán của Cisco & Oxford Economics đã chỉ ra rằng vào năm 2028, khoảng 7,5 triệu người, tương đương 14% lượng lao động sẽ phải dịch chuyển công việc của mình để nhường chỗ cho máy móc. 

Lượng người lao động Việt Nam bị ảnh hưởng bởi sự chuyển dịch này chỉ ít hơn Indonesia (9,5 triệu người) - quốc gia đông dân nhất khu vực ASEAN. Không chỉ có Việt Nam và Indonesia, đây cũng là vấn đề chung của các quốc gia khác khu Thái Lan cũng sẽ đối mặt với nguy cơ mất 4,9 triệu việc làm, với Malaysia con số này là 4,2 triệu. 

Tác động tích cực (xanh lá cây) và tiêu cực (xanh dương) của việc áp dụng công nghệ vào sản xuất đối với sự thay đổi số lượng việc làm tại 6 nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN (ASEAN 6).

Có thể thấy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nhu cầu chung của tất cả các nước thành viên ASEAN. Tuy vậy, đây cũng không phải là điều dễ dàng khi mà sự thay đổi liên tục của công nghệ khiến các chuyên gia khó đưa ra được những dự báo chính xác về nhu cầu của thị trường lao động. 

Không chỉ mang đến những tác động tiêu cực, CMCN 4.0 cũng góp phần tạo ra các việc làm mới khi mà nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành có liên quan đang không ngừng ra tăng. Không những vậy, bên cạnh việc một số ngành nghề có thể mất đi, sự phát triển của cuộc CMCN 4.0 cũng sẽ mang tới những nghề nghiệp mới. 

Thực tế cho thấy, quá trình phát triển để hội nhập quốc tế đòi hỏi tất cả các quốc gia phải liên tục cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh về nguồn nhân lực trong ASEAN hay giữa ASEAN và các quốc gia khác đang không ngừng gia tăng. 
ác nước ASEAN cần tìm ra được một tiếng nói chung trong việc thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn lao động trước sức ép từ sự phát triển nóng của cuộc CMCN 4.0. Ảnh: Trọng Đạt

 Nhân lực ICT đóng vai trò quyết định trong CMCN 4.0

Theo đánh giá của các chuyên gia có mặt tại hội thảo, ICT chính là hạt nhân của Công nghiệp 4.0. Nhân sự trong ngành ICT đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ trong lĩnh vực ICT mà còn trong cả quá trình chuyển đổi số của các lĩnh vực khác. 

Thống kê của Liên minh Châu Âu (EU) cho thấy, 75% giá trị gia tăng của các công ty Internet lại đến từ các mảng thị trường truyền thống. Trong khi đó, 55% lượng nhân sự về ICT lại đang làm việc ở những lĩnh vực không phải ICT. 

Đối với nhận thức về nguồn nhân lực ICT, 90% công dân ASEAN được khảo sát đồng ý rằng nguồn nhân lực ICT đang trở nên ngày càng quan trọng. Hầu hết các quốc gia ASEAN đều sở hữu những lợi thế nhất định trong việc phát triển nguồn nhân lực ICT. 

Tuy vậy, rào cản chung mà các quốc gia này phải đối mặt là việc thiếu đội ngũ chuyên gia lành nghề, sự hiểu biết về lĩnh vực IT nói chung của người dân ở mức thấp, ngoại trừ khu vực các thành phố lớn. Bên cạnh đó, các nước ASEAN cũng chưa có chính sách hỗ trợ phù hợp nhằm phát triển các tài năng trong lĩnh vực ICT. 

Các chuyên gia quốc tế chia sẻ để tìm hướng phát triển chất lượng nguồn nhân lực ICT tại các quốc gia ASEAN. Ảnh: Trọng Đạt

Để có thể tăng cường chất lượng nguồn nhân lực ICT tại các quốc gia ASEAN, hơn lúc nào hết, việc đầu tiên cần làm là phải đánh giá đúng được hiện trạng của nguồn nhân lực ICT trong khu vực. Trong đó bao gồm cả cơ sở hạ tầng hỗ trợ nguồn nhân lực, chính sách, năng lực tài chính, văn hoá, giáo dục hay kỹ năng của người lao động. 

Tiếp đến, cần phân tích từ những thông tin đã thu thập được để xác định nhu cầu thị trường và đưa ra hướng dẫn thực tiễn để phát triển nguồn nhân lực ICT. Bên cạnh đó, các nước ASEAN cũng cần tổ chức những nghiên cứu tổng quan về nguồn nhân lực ICT, bao gồm cả chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực, để rồi từ đó chia sẻ lẫn nhau về kinh nghiệm thực tiễn. 

Cách tốt nhất để phát triển chất lượng nguồn nhân lực ICT vẫn nằm ở khía cạnh chính sách, đặc biệt là trong việc đào tạo lại và nâng cấp kỹ năng cho người lao động. Song song với đó, các nước cũng cần phải có các bước đi cụ thể, đặc biệt là trong việc ngồi lại với nhau nhằm tìm ra bước đi chung nhằm phát triển nguồn lao động ICT tại khu vực ASEAN. 

Trọng Đạt/vietnamnet.vn

75 triệu dữ liệu của người dân được đưa vào hệ thống

Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng nói, cố gắng năm 2020 dự án về cơ sở dữ liệu dân cư sẽ cơ bản hoàn chỉnh.

Tại phiên chất vấn Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng sáng nay, ĐB Hà Thị Minh Tâm (Hà Nam) hỏi Bộ trưởng việc chỉ đạo triển khai dịch vụ công trực tuyến, việc khai thác, chia sẻ, kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu chung quốc gia hiện nay được triển khai như thế nào và có khó khăn gì không?

ĐB cũng đề cập việc chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin, trọng tâm là Chính phủ điện tử thực hiện vào quản lý, điều hành và giải quyết công việc của người dân và DN hiện nay như thế nào? Giải pháp của Bộ trưởng trong thời gian tới?

ĐB Hà Thị Minh Tâm. Ảnh Minh Đạt

Liên quan đến vấn đề chia sẻ dữ liệu, Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, khi chúng ta phát triển dịch vụ công trực tuyến, nhiều năm qua, có màu sắc của việc "trăm hoa đua nở".

Cho tới giờ, việc này đã mắc phải điểm nghẽn về nền tảng. Chúng ta phải giải quyết nền tảng để thúc đẩy tốc độ của dịch vụ công trực tuyến.

Trong đó, có 1 nội dung quan trọng là kết nối địa phương với các bộ, ngành, chia sẻ dữ liệu. Hiện nay Bộ TT&TT đã hoàn tất trục kết nối với cơ sở dữ liệu phong phú, ví như về DN, tư pháp, lý lịch, BHXH… đã được kết nối.

Điều thứ hai phải làm là đặt ra những cơ sở pháp lý cho nội dung này. Trong năm 2019, Bộ sẽ trình Chính phủ ban hành nghị định về kết nối và chia sẻ dữ liệu. Nghị định sẽ tạo ra hành lang pháp lý quan trọng để thúc đẩy chia sẻ dữ liệu.

Về Chính phủ điện tử và thành phố thông minh, theo Bộ trưởng, hiện nay, Thủ tướng đã có đề án, trong đó có nội dung đề cập đến vấn đề trong giai đoạn đầu, chúng ta sẽ triển khai thí điểm.

Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng. Ảnh: Minh Đạt

Vì vậy, trong tháng 11, Bộ TT&TT sẽ ban hành hướng dẫn về thí điểm, trực tiếp làm việc tại một số TP để làm mẫu. Dự kiến đến giữa năm 2020, chúng ta sẽ có thể phát triển trên diện rộng.

ĐB Nguyễn Hồng Vân (Phú Yên) nêu, những cơ sở dữ liệu dùng chung trong quốc gia như lĩnh vực đất đai, hộ tịch, hộ khẩu, đăng ký DN và một số lĩnh vực khác trong báo cáo nêu triển khai còn quá chậm.

Ông đề nghị Bộ trưởng cho biết giải pháp đột phá nào để khắc phục tình trạng trên?

Bộ trưởng thông tin, chúng ta đang có 5 cơ sở dữ liệu dùng chung mang tính nền tảng quốc gia. Trong đó 3 cơ sở dữ liệu tương đối ổn, còn 2 cơ sở dữ liệu bị chậm gồm cơ sở dữ liệu dân cư và đất đai.

Trong tháng 10, ông cùng Bộ trưởng NN&PTN làm việc với Thứ trưởng Công an phụ trách về dự án dân cư để bàn bạc và tìm ra giải pháp, cách thực hiện.

Hiện nay dự án đó đã được phê duyệt, đưa vào dự án đầu tư công trung hạn và cũng bắt đầu có tiền ngân sách, Bộ Công an cũng đã triển khai.

 “Hiện nay, 75 triệu dữ liệu của người dân đã được quét đưa lên mạng, đưa vào trong hệ thống. Bộ TT&TT sẽ hỗ trợ tích cực, chúng tôi cũng đặt ra một mục tiêu là cố gắng năm 2020 dự án về cơ sở dữ liệu dân cư này sẽ cơ bản hoàn chỉnh”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói.

Về dữ liệu đất đai, ông cũng đã trực tiếp làm việc với Bộ trưởng TN&MT để tìm giải pháp.

Kết nối các cơ sở dữ liệu

Cùng mối quan tâm về xây dựng các dữ liệu quốc gia còn chậm, ĐB Mai Thị Phương Hoa (Nam Định) dẫn câu chuyện được báo chí phản ánh: Có trường hợp 1 thanh niên lấy vợ 10 năm nhưng vẫn phải đi xác nhận từng là người độc thân để bán mảnh đất mà mình sở hữu từ khi còn chưa lấy vợ.

ĐB Mai Thị Phương Hoa

Việc này gây ra rất nhiều khó khăn, phiền hà cho người dân và DN. Thậm chí, có nhiều trường hợp đã bị vòi vĩnh, nhũng nhiễu và tạo ra tham nhũng vặt.

Bà muốn hỏi rõ trách nhiệm của Bộ TT&TT trong vấn đề này, giải pháp khắc phục triệt để những bất cập nêu trên?

Nhắc lại việc ta có 5 cơ sở dữ liệu dùng chung, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, các quốc gia có 2 lựa chọn: Một là tập trung tất cả các cơ sở dữ liệu vào một  chỗ, hai là phân tán. Giải pháp nào thì cũng đều có mặt mạnh và mặt yếu.

Chúng ta chọn giải pháp phân tán, nhưng phân tán thì vẫn phải kết nối được.

Hiện nay, Bộ TT&TT là cơ quan phải ra tiêu chuẩn để cho các cơ sở dữ liệu ấy có thể kết nối được với nhau, các tỉnh có thể truy cập vào để lấy dữ liệu về được, các bộ cũng có thể truy cập vào địa phương để lấy dữ liệu được và liên bộ với nhau cũng có thể kết nối.

Theo Bộ trưởng, về mặt hành lang pháp lý còn nợ một nghị định kết nối, chia sẻ. Bộ TT&TT cũng đã lấy ý kiến rộng rãi và đã có phiên bản cuối cùng, sẽ trình Chính phủ cố gắng ban hành trong năm nay.

Trong đó có nội dung rất quan trọng là người dân đến một cơ quan công quyền đã khai báo 1 thông tin cá nhân thì cơ quan công quyền khác không được yêu cầu khai báo lại.

Hương Quỳnh - Thu Hằng - Trần Thường/vietnamnet.vn

Mỗi tháng chặn được từ 10-15 triệu tin nhắn rác

Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, mỗi tháng ghi nhận khoảng 10.000 số máy thực hiện cuộc gọi rác, làm ảnh hưởng đến hàng triệu người. 

Chất vấn Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng sáng nay, ĐB Lê Thị Nguyệt (Vĩnh Phúc) nêu hiện nay số sim điện thoại của cá nhân, tổ chức thì quảng cáo nào cũng có, từ quảng cáo rao bán đất, bán nhà tới các loại hàng hoá...

ĐB Lê Thị Nguyệt: Có biện pháp gì để ngăn chặn sim rác?. Ảnh: Minh Đạt

Bà nêu câu hỏi Bộ TT&TT, Bộ Công an có biện pháp gì để ngăn chặn, xử lý, khắc phục tình trạng trên?

Trong tháng 10, 24 triệu sim không có thông tin được kích hoạt

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhận định đây là một vấn đề kéo dài.

Nói về giải pháp mang tính đột phá của Bộ TT&TT, theo Bộ trưởng, trước đây xử lý sim rác thì đối tượng là hàng trăm nghìn điểm bán sim, các đại lý.

Nhưng gần đây Bộ TT&TT dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng đã đổi cách quản lý. Đối tượng quản lý tập trung là các nhà mạng, hiện chỉ có 4-5 nhà mạng. Quy định trách nhiệm vào Tổng giám đốc, Chủ tịch các công ty viễn thông. 

Bộ trưởng hy vọng sẽ có sự thay đổi căn bản sau khi có chỉ thị của Thủ tướng.

Ông dẫn câu chuyện, bây giờ chúng ta có phạt 1 nhà mạng thì các quy định của pháp luật chỉ phạt đến vài chục triệu, mà nhà mạng doanh thu hàng trăm nghìn tỷ, thì không đáng kể .

“Thủ tướng cũng đã chỉ đạo chúng tôi ra 1 quy định, nếu như còn sim rác thì sẽ không cấp phép các dịch vụ mới cho nhà mạng đấy”, Bộ trưởng cho biết.

Bộ trưởng TT&TT báo tin vui là chỉ trong tháng 10 vừa qua, 24 triệu sim không có thông tin được kích hoạt trước để bán cho khách hàng đã được chặn lọc, chỉ còn khoảng 6 triệu, bước đầu giảm được 75%. Các nhà mạng cũng dùng công nghệ để chặn lọc những thông tin quảng cáo.

Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng: Còn sim rác thì sẽ không cấp phép các dịch vụ mới cho nhà mạng. Ảnh: Minh Đạt

Ông cho biết, hiện nay mỗi tháng chúng ta chặn được 10-15 triệu tin nhắn rác, các phàn nàn của khách hàng giảm đi. Tuy nhiên, các nhà mạng hiện nay mới tập trung vào chuyện quảng cáo là bất động sản và bán sim số đẹp, còn các lĩnh vực khác thì chưa thể nên Bộ sẽ chỉ đạo xử lý.

80% trong số 10.000 cuộc gọi là sim rác

ĐB Trương Thị Yến Linh (Cà Mau) nêu số lượng tin nhắn rác trên mạng di động được lọc chặn từ tháng 1/2018 đến tháng 8/2019 lên tới gần 240 triệu.

Tuy nhiên, vấn đề này Bộ trưởng cũng đã nói là xử lý kéo dài nhất nhưng vẫn còn nhiều tồn tại như người sử dụng mạng di động lẽ ra phải được quyền nhận những tin nhắn, những cuộc gọi đúng theo nhu cầu, theo mong muốn. Nhưng muốn như vậy thì họ phải đăng ký sử dụng các dịch vụ chặn tin nhắn rác, cuộc gọi rác tốn phí hàng tháng.

ĐB đề nghị Bộ trưởng cho biết giải pháp đảm bảo quyền lợi sử dụng và cam kết xử lý như thế nào?

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, hiện nay các nhà mạng mỗi 1 tháng ghi nhận được khoảng 10.000 số máy thực hiện các cuộc gọi rác, ảnh hưởng đến hàng triệu người và hàng triệu cuộc gọi.

Theo Bộ trưởng, mới đây Bộ đã làm việc với các nhà mạng để tìm biện pháp xử lý việc này.

“Chúng tôi đã cho thí nghiệm giải pháp kỹ thuật vì cuộc gọi rác có đặc điểm của nó là gọi rất nhiều cuộc khác nhau và khi gọi lại không trả lời”, ông Hùng nói.

Lãnh đạo Bộ TT&TT cho hay căn cứ vào những việc đó để phát hiện và thực hiện chặn lọc. Trong năm 2019 này cơ bản sẽ thí điểm các công cụ, giống như công cụ chặn tin rác.

Ông thông tin thêm, 80% trong số 10.000 thuê bao cuộc gọi là sim rác, nên gốc vẫn là câu chuyện chặn sim rác. 

Hương Quỳnh - Thu Hằng - Trần Thường/vietnamnet.vn

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Doanh nghiệp VN cần làm chủ các công nghệ nền tảng trong Chính phủ điện tử

Mật mã, nền tảng chia sẻ dữ liệu, điện toán đám mây và an toàn, an ninh mạng là 4 công nghệ chủ chốt trong xây dựng, phát triển CPĐT được Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đặt mục tiêu cho các doanh nghiệp VN cần phải làm chủ.

Trong trao đổi tại phiên tọa đàm cấp cao tại Diễn đàn về Công nghiệp 4.0 năm 2019, chia sẻ về định hướng triển khai các nội dung công việc xây dựng Chính phủ điện tử,  Bộ trưởng Bộ TT&TT đã cho biết, Bộ TT&TT coi phát triển Chính phủ điện tử và đô thị thông minh là một mục tiêu kép. Trong đó, mục tiêu số một  là xây dựng được một Chính phủ điện tử, đô thị thông minh hiệu quả; còn mục tiêu thứ hai là thông qua quá trình đó tạo ra được các doanh nghiệp CNTT mạnh để góp phần cho giai đoạn tiếp theo - giai đoạn chuyển đổi số, đẩy mạnh công cuộc chuyển đổi số quốc gia, từ cái nôi Việt Nam đi ra toàn cầu.

Trên cơ sở nhận thức rõ hiện nay nhiều doanh nghiệp công nghệ đang cơ bản làm những việc giống nhau, “nhà nhà làm, làm cùng một thứ nhưng lại làm không đến nơi”, người đứng đầu Bộ TT&TT cho biết tới đây Bộ sẽ phân vai một số các doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp nền tảng, với mục tiêu đặt ra là “doanh nghiệp làm cái gì thì sâu cái đó, không những tốt cho Việt Nam mà còn đi ra toàn cầu được”.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện tử.

Mới đây, tại buổi làm việc đầu tiên của Tổ công tác giúp việc Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện tử kể từ khi nhiệm vụ thường trực Tổ công tác được chuyển từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ TT&TT theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng đã một lần nữa đề cập đến cơ hội cho các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam trong xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử: “Chúng ta cần xây dựng Chính phủ điện tử tốt và dẫn đầu. Điều này sẽ mang lại cơ hội cho doanh nghiệp CNTT phát triển, phục vụ cho Việt Nam và từ Việt Nam đi ra nước ngoài”.

Cũng trong kết luận buổi làm việc của Tổ công tác, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã nêu rõ các công nghệ nền tảng trong Chính phủ điện tử mà các doanh nghiệp Việt Nam cần phải làm chủ được.

 

Cụ thể, về mật mã của Chính phủ điện tử, Bộ trưởng đề nghị Ban Cơ yếu Chính phủ rà soát, đề xuất mật mã dành cho Chính phủ điện tử việc gì sẽ do Ban làm, việc gì định hướng doanh nghiệp làm và những doanh nghiệp công nghệ Việt Nam nào sẽ tham gia vào việc làm chủ mật mã Chính phủ điện tử. Trên cơ sở đề xuất của Ban Cơ yếu Chính phủ, dự kiến trước ngày 15/11/2019 sẽ có cuộc họp giữa Tổ công tác với Ban Cơ yếu Chính phủ để thống nhất vấn đề này.

Tập đoàn VNPT được giao nhiệm vụ đề xuất tiêu chuẩn công nghệ liên quan đến nền tảng chia sẻ dữ liệu, trình Bộ TT&TT xem xét, thực hiện ban hành. Cục Tin học hóa có trách nhiệm đề xuất danh sách các doanh nghiệp Việt Nam có năng lực làm chủ công nghệ về nền tảng chia sẻ dữ liệu.

 

Bộ trưởng cũng nêu rõ, cần phải xem điện toán đám mây (Cloud Computing) là hạ tầng của hạ tầng, nên trong phát triển Chính phủ điện tử, doanh nghiệp Việt Nam phải làm chủ hạ tầng quan trọng này. Cục An toàn thông tin cần xác định các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng làm được điện toán đám mây cho Chính phủ điện tử.

Khẳng định bảo đảm an toàn, an ninh mạng chính là điều kiện tiên quyết để xây dựng Chính phủ điện tử tin cậy, Bộ trưởng giao Cục An toàn thông tin đề xuất danh sách những sản phẩm an toàn, an ninh mạng khuyến nghị cho Chính phủ điện tử, xây dựng tiêu chuẩn liên quan và hướng dẫn các doanh nghiệp cách thức tham gia cung cấp giải pháp.

Nhấn mạnh các công nghệ kể trên là những vấn đề quan trọng, nền tảng cho xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử và chúng ta có đầy đủ khả năng để làm chủ được, Bộ trưởng cũng lưu ý các đơn vị cần chỉ ra thời gian cụ thể cho từng nội dung công việc cụ thể.

Theo ICTnews/vn

Các nhà mạng Châu Âu sẽ "đổ bộ" vào Việt Nam từ năm 2020

Với việc tham gia Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường viễn thông cho các nhà đầu tư và nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đến từ EU.

Việt Nam sẽ mở cửa thị trường viễn thông

Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2020. Khi Hiệp định này được triển khai, nhiều ngành kinh tế tại Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh từ EVFTA và viễn thông là một trong số đó. 

Một trong những nguyên tắc chung là Việt Nam chấp nhận mở cửa thị trường viễn thông khi tham gia EVFTA. 

Việt Nam cam kết không hạn chế về số lượng doanh nghiệp, tổng giá trị giao dịch hoặc tài sản, tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lượng các dịch vụ đầu ra, tỷ lệ tối đa của cổ phần/vốn góp/giá trị đầu tư nước ngoài, loại hình cụ thể của pháp nhân hoặc liên doanh… đối với nhà đầu tư EU.

Đối với các dịch vụ xuyên biên giới, Việt Nam cam kết không hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ, tổng giá trị giao dịch/tài sản và tổng số lượng dịch vụ cung cấp.

Việt Nam sẽ mở cửa thị trường viễn thông khi Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực.

Các nguyên tắc này sẽ được thực hiện trừ khi Biểu cam kết có quy định khác, đối với các lĩnh vực có trong Biểu.

Khi tham gia EVFTA, Việt Nam cam kết đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư và các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đến từ EU với các nhà đầu tư Việt Nam.

Tuy vậy, Việt Nam vẫn có thể đối xử khác biệt giữa nhà cung cấp dịch vụ này, miễn là không làm thay đổi điều kiện cạnh tranh theo hướng có lợi hơn cho nhà cung cấp dịch vụ Việt.

Dịch vụ viễn thông nào sẽ mở cửa sau năm 2020?

Với các cam kết của Việt Nam khi tham gia EVFTA, thị trường viễn thông trong nước sẽ có bước mở cửa rất mạnh sau 5 năm nữa. 

Theo đó trong lĩnh vực viễn thông, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường đối với 2 nhóm ngành dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. Hai nhóm này lại chia thành 2 phương thức là có hạ tầng mạng và không có hạ tầng mạng.  

 

Nhóm ngành dịch vụ viễn thông cơ bản bao gồm dịch vụ thoại, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói, dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh, dịch vụ telex, dịch vụ telegraph, dịch vụ facsimile, dịch vụ thuê kênh riêng và các dịch vụ như hội nghị truyền hình, thông tin vô tuyến, kết nối Internet và truyền dẫn tín hiệu video trừ truyền quảng bá.

Nhóm dịch vụ giá trị gia tăng gồm mạng riêng ảo (VPN), thư điện tử, thư thoại, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu, chuyển đổi mã và giao thức, thông tin trực tuyến và truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu, các dịch vụ facsimile gia tăng giá trị.

Rất nhiều dịch vụ viễn thông thuộc nhóm ngành dịch vụ viễn thông cơ bản và nhóm các dịch vụ giá trị gia tăng sẽ mở cửa đón các nhà đầu tư và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài kể từ năm 2020.

Với các dịch vụ cung cấp qua biên giới cho khách hàng tại Việt Nam, nhóm dịch vụ hữu tuyến và di động mặt đất, các nhà cung cấp dịch vụ từ EU được tham gia không hạn chế. Tuy nhiên, họ sẽ phải thông qua thỏa thuận thương mại với một tổ chức được thành lập ở Việt Nam. Tổ chức này phải được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế.

Với dịch vụ viễn thông vệ tinh, các nhà cung cấp từ EU phải thông qua thỏa thuận thương mại với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh quốc tế Việt Nam được cấp phép. Quy định này cũng có ngoại lệ trong một vài trường hợp cụ thể. 

Tùy vào từng loại hình dịch vụ viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài có thể thiết lập các liên doanh tại Việt Nam với tỷ lệ vốn góp từ 49% - 100%.

Đối với việc đầu tư dịch vụ viễn thông cơ bản, nếu không có hạ tầng mạng, EVFTA cho phép các doanh nghiệp EU được liên doanh cùng các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Việt Nam với tỷ lệ vốn nước ngoài từ 65% - 70%. Tỷ lệ này có thể tăng lên 75% sau 5 năm kể từ ngày EVFTA có hiệu lực. 

Nếu có hạ tầng mạng, doanh nghiệp EU được liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam với phần vốn góp không vượt quá 49% vốn pháp định.

Đối với việc đầu tư dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng, nếu không có hạ tầng mạng, sau 5 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, liên doanh được phép nâng tỷ lệ vốn nước ngoài đến 100%. Tỷ lệ này tối đa là 65% trong trường hợp liên doanh có sở hữu hạ tầng mạng. 

Trọng Đạt/ictvietnam.vn

Tốc độ 5G tại Việt Nam chỉ nhanh khi hạ tầng cáp quang đủ mạnh

Các dịch vụ mới ra đời sẽ ngày càng có tiêu chuẩn cao hơn, cùng nghĩa với việc tiêu tốn băng thông nhiều hơn. Do đó, Việt Nam phải có hạ tầng cáp quang đủ tốt mới có thể triển khai được hết các ứng dụng của 5G.

Sáng 17/10, Hội đồng FTTH Châu Á – Thái Bình Dương (FTTH Council Asia-Pacific) và Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) đã tổ chức hội thảo Vietnam FIBERTalk 2019.

Đây là một hội thảo hẹp với sự tham gia chủ yếu của cộng đồng người làm viễn thông trong nước và một số đơn vị nước ngoài. Hội thảo là bước chuẩn bị cho sự kiện thường niên lần thứ 15 “FTTH Asia Pacific Conference” dự kiến được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2020.  

Vietnam FIBERTalk 2019 mang đến nhiều thông tin cho ngành công nghiệp viễn thông của Việt Nam thông qua sự trao đổi, chia sẻ từ các chuyên gia trong và ngoài nước về những vấn đề nóng trong triển khai hạ tầng cáp quang và hạ tầng viễn thông.

Việt Nam phát triển cả băng rộng cố định và băng rộng di động

Việt Nam hiện có khoảng 14 triệu thuê bao băng rộng cố định, chủ yếu là các thuê bao FTTH. Mật độ băng rộng cố định hiện mới chỉ ở mức xấp xỉ 15%, do vậy nhu cầu phát triển hạ tầng băng rộng cố định tại Việt Nam hiện còn rất lớn. 

Với việc tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam thường duy trì ở mức 6-7%/năm, nhu cầu kinh doanh của các hộ gia đình, các công ty, doanh nghiệp cũng tỷ lệ thuận theo đó. Cùng với nhu cầu kinh doanh ngày một lớn hơn, hạ tầng kết nối cáp quang và băng rộng cố định cũng sẽ phát triển. 

Ông Phan Thảo Nguyên, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ TT&TT). Ảnh: Trọng Đạt

Theo đánh giá của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), nếu mật độ băng rộng cố định vượt ngưỡng 20%, GDP nền kinh tế của một quốc gia sẽ tăng thêm 0,38% nếu tốc độ phát triển mật độ thuê bao tăng rộng tăng 10%.

Hiện nay, Bộ TT&TT đã cấp giấy phép cho các nhà mạng tại Việt Nam để bắt đầu thử nghiệm công nghệ 5G tại một số thành phố lớn. Việt Nam xác định sẽ không đi chậm so với các nước trong quá trình phát triển 5G.

Theo ông Phan Thảo Nguyên, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ TT&TT), Bộ nhìn cả góc độ phát triển băng rộng cố định cũng như băng rộng di động trên cơ sở chính sách đồng nhất và song song nhau. 

Bộ TT&TT cũng xác định sẽ phát triển hạ tầng cố định băng rộng trên cơ sở cáp quang. Đây là yếu tố hạ tầng rất quan trọng để phát triển toàn bộ hạ tầng CNTT của Việt Nam trong tương lai. Đặc biệt là khi, Việt Nam đang thực hiện một loại các đề án, dự án liên quan đến tiến trình chuyển đổi số quốc gia, trong đó có việc triển khai đô thị thông minh và chính phủ điện tử. 

5G thành hay bại phụ thuộc vào hạ tầng cáp quang

Việt Nam đang có những bước đi mạnh mẽ nhằm tiến tới việc theo mại hóa 5G vào năm 2020. Ở thời điểm hiện tại, Viettel là nhà mạng duy nhất đã triển khai phát sóng thử nghiệm mạng 5G. Trong khi đó, MobiFone dự kiến sẽ phát sóng thử nghiệm 5G trong tháng 10/2019 và với VNPT là tháng 11/2019.

Việc thử nghiệm 5G đang được các nhà mạng Việt Nam gấp rút triển khai với mục tiêu thương mại hóa 5G vào năm 2020.

Tháng 4/2017 Huawei thông báo đã tiến hành thử nghiệm thành công 5G với tốc độ lên đến 70 Gbit/s trong môi trường phòng thí nghiệm có kiểm soát ở Na Uy. Trong khi đó tại Việt Nam, tốc độ kết nối trong các bài thử nghiệm mạng 5G đầu tiên dao động từ 1 - 1.3Gbps. Trước thông tin này, nhiều nhà cung cấp dịch vụ cáp quang có cảm giác quan ngại trong trường hợp 5G được triển khai rộng rãi.

Theo ông Lương Phạm Nam Hoàng - Phó Trưởng phòng Cấp phép và Thị trường (Cục Viễn thông - Bộ TT&TT): “Hệ thống cáp quang cũng giống như mạch máu trong cơ thể. Trong khi đó 5G là các mao mạch nhỏ hơn giúp lấy máu từ mạch chính để truyền đi các bộ phận”.

“Nói nôm na, so với 4G, 5G là một phương mới, sử dụng các công nghệ mới để truyền tải toàn bộ năng lực của mạng truyền dẫn đến người dùng di động. 5G hướng đến việc thu phí rất ít nhưng thu với khối lượng rất lớn, bắt nguồn từ nhu cầu kết nối của hệ thống các thiết bị IoT ở tất cả mọi nơi”, ông Hoàng cho biết.

Với quan điểm như vậy, năng lực của mạng cáp quang là một trong những yêu cầu cơ bản nhất để hiện thực hóa được việc triển khai các dịch vụ 5G.

Theo ông Lương Phạm Nam Hoàng - Phó Trưởng phòng Cấp phép và Thị trường (Cục Viễn thông), chất lượng mạng cáp quang sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc ứng dụng và triển khai mạng 5G. Ảnh: Trọng Đạt

Theo vị Phó Trưởng phòng Cấp phép và Thị trường (Cục Viễn thông), tương lai của mạng cáp quang đầy hứa hẹn. Mạng cáp quang vẫn sẽ phát triển và cần phải được đầu tư rất nhiều, nhất là khi Chính phủ Việt Nam và nhiều quốc gia khác đang hướng tới các chương trình chuyển đổi số quốc gia. Bên cạnh đó, khi 5G được thương mại hóa thì vai trò của hệ thống cáp quang lại ngày càng quan trọng.

Dư địa phát triển của cáp quang còn rất lớn. Các nhà mạng có thể bắt tay cùng nhà nước để chia sẻ trách nhiệm trong việc thúc đẩy sự phát triển hạ tầng cáp quang. Ví dụ như hệ thống cống, bể cáp,... tại các địa phương. Các doanh nghiệp cũng nên chủ động phát triển hạ tầng thay vì đi thuê lại của các nhà mạng khác, ông Hoàng cho biết.

Trọng Đạt/vietnamnet.vn

An toàn thông tin, an ninh mạng là yếu tố sống còn để chuyển đổi số quốc gia

An toàn, an ninh mạng là điều kiện cơ bản, là yếu tố sống còn để thực hiện thành công chuyển đổi số quốc gia. Tạo ra môi trường an toàn là điều kiện tiên quyết trong quá trình chuyển đổi số cũng như Chính phủ điện tử.

Đây là một trong những nội dung quan trọng được đề cập tại Hội nghị "Bảo đảm an toàn thông tin trong Chuyển đổi số quốc gia và Chính phủ điện tử" do Cục An toàn thông tin (Bộ TT&TT) tổ chức tại Bà Rịa - Vũng Tàu sáng 17/10.

Hội nghị có sự tham gia của 26 Sở các tỉnh phía Nam, các bộ, ngành liên quan, các tổng công ty, tập đoàn có đại diện tại khu vực.

Chủ đề của Hội nghị tập trung vào an toàn thông tin, điều kiện cơ bản để thực hiện Chuyển đổi số quốc gia và Chính phủ điện tử.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Phó Cục trưởng Cục ATTT (Bộ TT&TT) trình bày tham luận tại hội nghị.

Với sự xuất hiện của một số công nghệ mới mang tính đột phá, như AI, Big Data, IoT, cuộc cách mạng số đang gia tăng tốc độ, xuất hiện cơ hội để hình thành xã hội thông minh. Để tận dụng cơ hội của công nghệ số, các quốc gia phải thực hiện chuyển đổi số. Năm 2019 này, Việt Nam sẽ xây dựng đề án chuyển đổi số quốc gia, để xây dựng nền kinh tế số, xã hội số.

An toàn, an ninh mạng là điều kiện cơ bản, là yếu tố sống còn để thực hiện thành công chuyển đổi số quốc gia. Tạo ra môi trường an toàn để chính phủ, doanh nghiệp và người dân sử dụng công nghệ số là điều kiện tiên quyết trong quá trình chuyển đổi số cũng như Chính phủ điện tử. Việt Nam mong muốn và phải tạo ra một không gian an toàn để thực hiện các giao dịch số.

Hiện nay, Internet cũng như các công nghệ trong cuộc cách mạng số đang ngày càng đi sâu vào mọi mặt cuộc sống, tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đồng thời tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro về mất an toàn, an ninh mạng.

 

Do đó, giải pháp bắt đầu từ vấn đề nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi người dân trong môi trường mạng là vô cùng quan trọng. Từ nhận thức đúng sẽ có hành động đúng và từ hành động đúng sẽ có thói quen an toàn, lành mạnh trên không gian mạng. Điều này cần sự chung tay của toàn xã hội, mỗi cá nhân trong cộng đồng này nhằm duy trì, phát triển an toàn thông tin (ATTT) mạng, bảo đảm an toàn thông tin mạng là bảo vệ chính chúng ta nhằm góp phần xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh.

Bảo đảm an toàn thông tin cho chuyển đổi số và chính phủ điện tử không đơn thuần là ứng dụng các giải pháp đắt tiền mà quên đi yếu tố con người. Thực tiễn đã chứng minh cán bộ, công chức, viên chức, người lao động luôn là những mắt xích yếu nhất về an toàn thông tin. Một sự cố về mất an toàn thông tin của cơ quan, tổ chức có thể phát sinh từ những tình huống đơn giản nhất như chia sẻ mật khẩu hay sử dụng email không đúng cách...

Do vậy, việc bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức về ATTT cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động cần phải được chú trọng và thực hiện thường xuyên hơn nữa.

Tại Hội nghị sáng nay, các bài trình bày được đưa ra để nâng cao nhận thức về an toàn thông tin bao gồm: Công tác bảo đảm an toàn thông tin trên không gian mạng; Tổng quan Chỉ thị số 14/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao năng lực phòng, chống phần mềm độc hại (năm 2018) và Chỉ thị số 14/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo đảm an toàn thông tin nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam; Triển khai công tác bảo đảm an toàn thông tin tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Bảo vệ thông tin cá nhân trong chuyển đổi số; Mạng lưới ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng quốc gia.

Bộ TT&TT mong muốn sau mỗi hội thảo, hội nghị, nhận thức về ATTT của cộng đồng và xã hội ngày càng được cải thiện và khi áp dụng thường xuyên, hình thành những kỹ năng để mỗi người tự bảo vệ bản thân, bảo vệ gia đình từ đó tiến tới bảo vệ cơ quan, tổ chức và quốc gia trên không gian mạng.

H.P/vietnamnet.vn

Sử dụng chữ ký số để đảm bảo an toàn, bảo mật cao cho giao dịch điện tử

Ngày 11/10/2019, tại Hà Nội, Bộ TTTT phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ tổ chức Hội nghị “Tuyên truyền, đẩy mạnh sử dụng chữ ký số trong các hoạt động của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp (DN), xã hội năm 2019”.

Tham dự Hội nghị có Thứ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Thành Hưng; Thiếu tướng Nguyễn Đăng Đào, Trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ; đại diện Lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ; đại diện Lãnh đạo Tỉnh/Thành ủy, UBND, Sở TTTT các tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc.

Thứ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Thành Hưng phát biểu

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Thành Hưng nhấn mạnh: “Ngày nay, giao dịch điện tử trong những hoạt động của các DN, cơ quan nhà nước và xã hội có vai trò hết sức quan trọng và là một hoạt động thúc đẩy phát triển kinh tế số trong thời gian tới. Chữ ký số (CKS) là một trong những loại hình kỹ thuật, công nghệ đảm bảo sự an toàn, bảo mật cao cho giao dịch điện tử”.

Thời gian vừa qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực giao dịch điện tử như: Nghị định 130 ngày 27/9/2018 quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử; Nghị định 119 quy định về hóa đơn điện tử; Nghị định 165 quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Quyết định 28 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước.

“Các văn bản này quy định rõ về giá trị pháp lý của CKS, giá trị pháp lý của văn bản điện tử, hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử có ký số có giá trị như bản giấy”, Thứ trưởng nhấn mạnh.

Trong năm 2019, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 17 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử (CPĐT) giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến năm 2025. Bộ TTTT theo tinh thần của Nghị quyết 17 cũng được giao nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như Nghị định về định danh và xác thực điện tử; Nghị định về quản lý, kết nối, chia sẻ dư liệu; Triển khai dịch vụ chứng thực CKS trên thiết bị di động để thuận tiện sử dụng cho người dân, DN; Triển khai các giải pháp liên thông giữa hệ thống chứng thực CKS công cộng và hệ thống chứng thực CKS chuyên dùng Chính phủ.

Trong Nghị quyết 17, Bộ TTTT được giao nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất phương án đẩy mạnh việc cấp chứng thư số cho người dân, DN theo hướng giảm chi phí cấp và duy hoạt động chứng thư số để khuyến khích sử dụng trong các giao dịch điện tử. Chính phủ có mong muốn làm thế nào CKS được sử dụng rộng rãi trong giao dịch điện tử, cũng muốn giá thành chứng thư số phải giảm.

Theo đó, Thứ trưởng nhấn mạnh: “Một trong những việc quan trọng để giảm được giá thành là phải làm thế nào để thúc đẩy việc sử dụng CKS rộng rãi. Nhiều người sử dụng thì giá thành sẽ giảm”.

Bên cạnh đó, theo Thứ trưởng, xây dựng CPĐT không phải là chúng ta chỉ cần ứng dụng công nghệ vào, mà chúng ta còn phải làm thế nào để các quy trình thực hiện thủ tục hành chính của chúng ta phải đơn giản, phải gắn kết chặt chẽ với cải cách hành chính (CCHC).

Thứ trưởng lấy ví dụ là thời gian vừa qua, Bộ TTTT phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ để triển khai hệ thống văn bản điện tử. Trong quá trình triển khai, có rất nhiều vướng mắc, trong đó có việc chúng ta áp dụng văn bản điện tử nhưng quy trình hành trình hành chính vẫn không thay đổi, như quy trình thực hiện văn bản giấy. Như vậy, có lẽ chúng ta sẽ khó thành công.

Theo Thứ trưởng, đây là một thực tiễn, nhiều khi chúng ta nghĩ quá nhiều về công nghệ, nghĩ quá nhiều các vấn đề về ứng dụng CNTT nhưng cái gốc của vấn đề là làm thế nào gắn kết được 2 vấn đề để cải cách hành chính tạo thuận lợi cho ứng dụng CNTT thành công, và ứng dụng CNTT thành công cũng là tạo điều kiện để chúng ta CCHC.

Thiếu tướng Nguyễn Đăng Đào, Phó Trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ

Thiếu tướng Nguyễn Đăng Đào, Phó Trưởng Ban Ban Cơ yếu Chính phủ cho biết: Tính đến tháng 9/2019, Ban Cơ yếu Chính phủ đã đáp ứng kịp thời gần 220.000 chứng thư số phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp.

Các bộ, ngành, địa phương đã chủ động, tích cực phối hợp với Bộ TTTT, Ban Cơ yếu Chính phủ triển khai CKS chuyên dùng Chính phủ trong công tác quản lý, điều hành, trao đổi văn bản điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và đã đạt được những kết quả quan trọng, đảm bảo an toàn các giao dịch điện tử, tạo môi trường làm việc hiện đại, tiết kiệm thời gian và chi phí; Nâng cao hiệu quả công việc, tăng tính công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành; Góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT, CCHC và phát triển CPĐT.

Bổ sung quy định sử dụng giấy tờ, tài liệu áp dụng CKS của cá nhân, DN trong thủ tục hành chính

Cũng tại Hội nghị, ông Phạm Quốc Hoàn, Phó Giám đốc Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC) cho biết: CKS có giá trị pháp lý, được coi là chứng cứ ký số vào thông điệp dữ liệu (văn bản điện tử, chứng từ điện tử, hoá đơn điện tử…). “CKS đảm bảo xác định được người ký số, tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu và người ký không chối bỏ được”.

Ông Phạm Quốc Hoàn, Phó Giám đốc NEAC

Theo ông Hoàn, chứng thư số sử dụng để ký số được cấp phát bởi CA hợp lệ, trong đó quy định thuật toán ký số, lược đồ ký số, hàm băm sử dụng do pháp luật quy định.

Bộ TTTT đang xây dựng Nghị định về định danh và xác thực điện tử - đang lấy ý kiến các Bộ, Ngành, tỉnh, thành phố; Thông tư quy định về sử dụng CKS trong giao dịch điện tử - Đang xin ý kiến các Bộ, Ngành, địa phương, Sở TTTT, DN, hiệp hội; Thông tư về Mobile PKI về ký số từ xa (remote singing) – đã gửi xin ý kiến các Bộ, Ngành, địa phương.

Ông Hoàn kiến nghị các Bộ, cơ quan Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố xây dựng cổng dịch vụ công trực tuyến:

- Rà soát, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật: Bổ sung các quy định sử dụng các giấy tờ, tài liệu điện tử có áp dụng CKS của các cá nhân, DN trong thủ tục hành chính (dịch vụ công trực tuyến).

- Xây dựng các hệ thống thông tin, cổng dịch vụ công trực tuyến đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về CKS để chấp nhận CKS trên tài liệu, hồ sơ điện tử của người dân, DN để đảm bảo tính pháp lý.

- Xây dựng và phát triển các hệ thống quản lý văn bản điều hành để trao đổi văn bản điện tử với các cơ quan khác (Quyết định 28/2018/QĐ-TTg và NQ 17/NQ-CP) cần lưu ý việc đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về CKS, liên thông hệ thống CA đối với văn bản điện tử để đảm bảo tính pháp lý.

Toàn cảnh Hội nghị

Đối với các tổ chức, DN, ông Hoàn yêu cầu khi triển khai các hệ thống thông tin liên quan đến việc ký số, kiểm tra CKS (chấp nhận CKS) của người dân, DN và cơ quan nhà nước cần tuân thủ các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về CKS, kiểm tra CKS, quy định liên thông để đảm bảo tính pháp lý.

Những kết quả đáng khích lệ về ứng dụng CKS

Theo số liệu thống kê của NEAC, tính đến 30/6/2019, các CA công cộng đã cấp 2.699.668 chứng thư số. Số lượng chứng thư số đang hoạt động là 1.166.896.

Các chứng thư số được cấp chủ yếu cho các DN, cá nhân thực hiện giao dịch trong các lĩnh vực chính như Thuế điện tử, Hải quan điện tử và Bảo hiểm xã hội điện tử, ngoài ra, còn sử dụng trong các loại giao dịch khác trong tài chính điện tử (chứng từ điện tử, hóa đơn điện tử), giao dịch ngân hàng điện tử, chứng khoán điện tử,  giao dịch thương mại điện tử, hợp đồng điện tử…

Điển hình là lĩnh vực thuế, sau 10 năm triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến ứng dụng CKS tại Tổng cục Thuế, hiện nay tần suất sử dụng ngày càng tăng cao.

Hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% Chi cục Thuế trực thuộc. Số lượng DN sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử tính đến 31/3/2019 là 711.604 DN hoạt động;

Về nộp thuế qua mạng, số lượng DN đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan thuế tính đến 31/3/2019 là 703.753 DN đang hoạt động, đạt tỷ lệ 98,87%;

Về hóa đơn điện tử, số lượng DN xuất hóa đơn điện tử trên hệ thống tính đến ngày 31/3/2019 đạt 255 DN.

Trong khi đó, tính đến hết quý I/2019, Tổng cục Hải quan đang cung cấp 181 dịch vụ công trực tuyến áp dụng CKS để xác thực và 170 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 áp dụng CKS để xác thực.

Số lượng DN sử dụng CKS để giao dịch dịch vụ công trực tuyến tính đến thời điểm 31/3/2019 tại các hệ thống: Hệ thống thông quan hàng hóa tự động (VNACCS/VCIS): 203.967 DN tham gia; Hệ thống Cổng thông tin một cửa quốc gia: 28.464 DN tham gia và 173 thủ tục đã triển khai.

Bảo hiểm xã hội sau hơn 04 năm triển khai, các dịch vụ công trực tuyến áp dụng CKS phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tính đến 31/3/2019, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã cung cấp 28 dịch vụ công trực tuyến dành cho DN với 323.481 DN ứng dụng dịch vụ.

Lan Phương/ictvietnam.vn

Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam qua từng chỉ số

Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) giới thiệu chính thức năm 2018, cung cấp một đánh giá chi tiết về các yếu tố và thuộc tính thúc đẩy năng suất, tăng trưởng và phát triển con người trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Năm 2019, Việt Nam được WEF đánh giá là nền kinh tế có mức độ cải thiện điểm số và tăng hạng tốt nhất toàn cầu.

Trụ cột Năng lực đổi mới sáng tạo tăng 6 bậc (từ thứ hạng 82 lên thứ hạng 76). - Ảnh minh họa

Năm 2019, WEF xếp hạng 141 nền kinh tế (chiếm 99% GDP thế giới) qua 103 chỉ số được nhóm thành 12 trụ cột (GCI 2018 bao gồm 98 chỉ số). Các trụ cột bao quát các yếu tố kinh tế - xã hội như thể chế, cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), ổn định kinh tế vĩ mô, y tế, kỹ năng, thị trường sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, mức độ năng động trong kinh doanh và năng lực đổi mới sáng tạo.

Bảng xếp hạng này cho thấy, năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam đã cải thiện vượt trội, song vẫn còn nhiều thách thức. Năm 2019, Việt Nam tăng 3,5 điểm (từ 58 điểm lên 61,5 điểm) cao hơn điểm trung bình toàn cầu (60,7 điểm) và tăng 10 bậc (từ vị trí 77 lên vị trí 67). Kết quả này đạt được là do 8/12 trụ cột tăng điểm và tăng nhiều bậc. Cụ thể là:

- Trụ cột Ứng dụng CNTT tăng điểm và tăng hạng nhiều nhất (tăng 25,7 điểm và 54 bậc, từ 43,3 điểm lên 69,0 điểm và theo đó thứ hạng từ vị trí 95 lên vị trí 41). Tất cả các chỉ số thành phần trong trụ cột này đều tăng điểm, tăng hạng (như Thuê bao internet cáp quang, Thuê bao di động, Thuê bao di động băng thông rộng, Số người sử dụng internet, Thuê bao Internet băng thông rộng cố định).

- Tiếp đến là Trụ cột Thị trường sản phẩm tăng 23 bậc (từ vị trí 102 lên thứ 79), với các chỉ số về cạnh tranh trong nước đều tăng điểm và tăng hạng, độ mở thương mại được ghi nhận tích cực với việc giảm bớt các rào cản phi thuế.

- Mức độ năng động trong kinh doanh tăng 12 bậc (từ vị trí 101 lên vị trí 89), với những cải thiện mạnh mẽ trên hầu hết các chỉ số thành phần (ngoại trừ phá sản doanh nghiệp), nhất là những chỉ số thể hiện tăng trưởng các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp có ý tưởng đột phá.

- Trụ cột Thị trường lao động tăng 2,6 điểm và 7 bậc (từ thứ 90 lên thứ hạng 83), với sự cải thiện về Di cư lao động trong nước (tăng 27 bậc); Mức độ dễ dàng trong tuyển dụng lao động nước ngoài (tăng 22 bậc); Mức độ linh hoạt của tiền lương (tăng 15 bậc); Quan hệ giữa người lao động- người sử dụng lao động và Thực tiễn tuyển dụng và sa thải lao động (đều tăng 10 bậc). Tuy nhiên, Quyền của người lao động chưa được đảm bảo, giảm 4 điểm và giảm 11 bậc (từ vị trí 82 xuống vị trí 93).

- Trụ cột Năng lực đổi mới sáng tạo tăng 6 bậc (từ thứ hạng 82 lên thứ hạng 76). Trong đó, Mức độ tinh thông của người mua tăng 46 bậc; Mức độ phát triển các cụm ngành tăng 33 bậc; Hợp tác đa bên tăng 17 bậc; Tính đa dạng của lực lượng lao động tăng 16 bậc; Chi phí R&D tăng 6 bậc.

- Trụ cột Thể chế tăng 0,3 điểm và 5 bậc (từ vị trí 94 lên vị trí 89). Trong đó, đáng kể nhất là nhóm các chỉ số thể hiện Mức độ định hướng tương lai của Chính phủ tăng mạnh. Nhóm chỉ số này trong GCI 2019 được phát triển và thể hiện cụ thể hơn so với đánh giá trong GCI 2018, do đó thứ hạng của Việt Nam ở chỉ số này được ghi nhận cải thiện tích cực (vị trí 40 năm 2019 so với thứ hạng 75 năm 2018). Tuy vậy, chỉ số về Quy định pháp lý thích ứng linh hoạt với mô hình kinh doanh số còn thấp điểm và thấp hạng (43,1 điểm và ở vị trí 71); chỉ số Ổn định chính sách chỉ đạt 50,3 điểm và thứ hạng 67.

- Trụ cột Kỹ năng tăng 2,7 điểm và 4 bậc (từ thứ 97 lên thứ hạng 93), với sự ghi nhận cải thiện tích cực trên tất cả các chỉ số thành phần. Đáng chú ý là: Chất lượng đào tạo nghề (tăng 13 bậc); Kỹ năng của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp (tăng 12 bậc); Mức độ đào tạo nhân viên và Mức độ dễ dàng tìm kiếm lao động lành nghề (cùng tăng 8 bậc); Tư duy phản biện trong giảng dạy (tăng 7 bậc);…

- Trụ cột Quy mô thị trường tăng 0,9 điểm và 3 bậc (từ vị trí 29 lên vị trí 26).

Mặc dù Việt Nam có những cải thiện đáng kể về điểm số và thứ hạng của hầu hết các chỉ số thành phần trong 8/12 trụ cột nêu trên, song vẫn còn 3 trụ cột tụt hạng và 1 trụ cột giữ vị trí không đổi. Cụ thể là:

- Trụ cột Ổn định kinh tế vĩ mô không thay đổi điểm số và thứ hạng (giữ ở mức 75 điểm và thứ hạng 64).

- Trụ cột Hệ thống tài chính tăng 1,6 điểm, nhưng giảm 1 bậc; trụ cột Cơ sở hạ tầng tăng 0,5 điểm, nhưng giảm 2 bậc.

- Trụ cột Y tế giảm điểm nhẹ (0,5 điểm, từ 81 điểm xuống 80,5 điểm) và do đó tụt 3 hạng (từ vị trí 68 xuống vị trí 71).

Mặt khác, có đến 8/12 chỉ số trụ cột hiện ở thứ hạng thấp hoặc rất thấp. Các trụ cột có thứ hạng dưới thứ hạng chung về năng lực cạnh tranh (thứ 67) gồm Thể chế (89); Cơ sở hạ tầng (77); Y tế (71); Kỹ năng (93); Thị trường sản phẩm (79); Thị trường lao động (83); Mức độ năng động trong kinh doanh (89); và Năng lực đổi mới sáng tạo (76).

Ở cấp độ các chỉ số thành phần, một số chỉ số có sự suy giảm mạnh như:

- Mức độ minh bạch về ngân sách giảm 50,4 điểm (từ 65,4 xuống 15 điểm), dẫn tới thứ hạng tụt 42 bậc (từ vị trí 42 xuống vị trí 84);

- Mức độ Tiếp xúc với nước uống không an toàn có dấu hiệu tăng, hiện ở thứ hạng thấp (thứ 95), giảm 13 bậc so với năm 2018 (thứ 82);

- Hiệu quả dịch vụ cảng biển tuy không giảm điểm, nhưng tụt 5 bậc (đứng thứ 83). Điều này thể hiện Việt Nam chưa quan tâm chú trọng tới dịch vụ cảng biển so với các nền kinh tế khác.

- Đáng chú ý là trong trụ cột Hệ thống tài chính, nguồn vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giảm 0,8 điểm và 12 bậc, đứng ở thứ hạng 97 (năm 2018 có thứ hạng 85). Kết quả này cho thấy tiếp cận tín dụng vẫn là trở ngại lớn đối với các DNVVN. Bên cạnh đó, Mức độ sẵn có về vốn đầu tư mạo hiểm tuy có sự cải thiện, nhưng chậm hơn so với nhiều nền kinh tế, dẫn tới thứ hạng giảm 10 bậc (từ vị trí 51 xuống vị trí 61). Điều này phần nào phản ánh môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam chưa thực sự ổn định và thuận lợi, khiến các quỹ đầu tư thận trọng hơn khi đầu tư cho doanh nghiệp ở Việt Nam.

- Hiệu quả giải quyết phá sản doanh nghiệp tiếp tục là rào cản lớn đối với hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, đứng cuối bảng xếp hạng (trong đó, mức độ phục hồi sản xuất kinh doanh đứng thứ 112, khuôn khổ pháp lý về giải quyết phá sản thứ 98; giảm tương ứng 3 và 5 bậc so với năm 2018).

Năm 2019, ngoại trừ Singapore và Việt Nam, các nước còn lại trong khu vực ASEAN đều giảm điểm hoặc giảm bậc. Trong đó, Malaysia, Thái Lan tăng điểm, nhưng giảm bậc (mỗi nước giảm 2 bậc); Indonesia và Philippines giảm điểm và giảm bậc (Indonesia giảm 5 bậc; Philippines giảm 8 bậc); 2 nước Lào và Campuchia vẫn ở cuối bảng xếp hạng. Tuy có sự cải thiện nhanh, nhưng năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam vẫn chỉ đứng thứ 6 trong ASEAN, sau Singapore (thứ 1), Malaysia (thứ 27), Thái Lan (thứ 40), Indonesia (thứ 50) và Philippines (thứ 64).

Kết quả cải thiện năng lực cạnh tranh của Việt Nam phần nào phản ánh nỗ lực liên tục trong những năm gần đây của Chính phủ vể cải cách môi trường kinh doanh, về thúc đẩy đổi mới sáng tạo để thích ứng và nhảy vọt trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 và hội nhập sâu rộng hơn. Những nỗ lực cải cách nổi bật như cắt giảm, đơn giản hoá ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh; thay đổi phương thức quản lý nhà nước trong hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành (áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, chuyển mạnh sang hậu kiểm,…); chú trọng cải thiện các quy định, thủ tục nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi; đẩy mạnh Chính phủ điện tử và giao dịch không dùng tiền mặt; cải cách thanh, kiểm tra doanh nghiệp; giảm chi phí doanh nghiệp; từng bước tạo lập thể chế chính sách vượt trội nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo;… đã đóng góp có ý nghĩa vào kết quả năng lực cạnh tranh 4.0 năm 2019 của nước ta.

Tuy vậy, phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là vấn đề về thể chế, kỹ năng, môi trường kinh doanh và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Bởi vậy, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực cải cách mạnh mẽ, thực chất và toàn diện hơn nữa để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế một cách bền vững và mang lại sự thịnh vượng. Điều này đòi hỏi không chỉ nỗ lực từ Chính phủ mà cần sự chung tay của các bên liên quan, nhất là cộng đồng doanh nghiệp và người dân.

Nguyễn Minh Thảo
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Nguồn: chinhphu.vn