Syndicate content

Chuyện dọc đường

6 món ăn miền Nam "đốn tim" người Hà Nội

Trong quá trình trao đổi văn hoá ẩm thực, có không ít món ăn của miền Nam đã tuyệt đối ghi điểm và được người Hà Nội rất ưa thích.

1. Bánh xèo

Bánh xèo là loại bánh phổ biến của miền Trung và miền Nam, nhưng các phiên bản bánh xèo tại Hà Nội mang sắc màu Nam Bộ nhiều hơn bởi vỏ bánh mỏng và rộng, màu vàng đậm, vị giòn tan. Bánh xèo ăn kèm rau thơm, bánh tráng, chấm nước mắm chua ngọt giờ không chỉ còn là món khoái khẩu của người miền Nam mà còn là món ăn vặt yêu thích của nhiều người Hà Nội.

Các quán bánh xèo ở Hà Nội thường bán kèm nem lụi, có lẽ bởi kiểu ăn cuốn bánh tráng và nước chấm của hai món ăn khá tương đồng với nhau.

2. Bánh tráng trộn

Mới du nhập về Hà Nội chưa lâu, nhưng bánh tráng trộn đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của giới trẻ thủ đô. Bánh tráng trộn được làm từ các nguyên liệu được nhiều người yêu thích như trứng cút, khô bò, khô mực... thêm vị chua ngọt dễ chịu từ nước quất, vị thơm của rau và vị dai dai lạ miệng của bánh tráng. Hiếm người có thể từ chối được được sức hấp dẫn từ món ăn bình dân, giản dị này.

3. Chè Sài Gòn

Khi chè Sài Gòn chưa đến Hà Nội, người dân thủ đô hầu như chỉ biết tới những món chè dân dã như chè đỗ đen, đỗ xanh, chè xôi, chè trôi nước... Những hàng chè Sài Gòn đa vị, đủ sắc màu đã nhanh chóng trở thành món ăn khoái khẩu và quen thuộc với người Hà Nội. Chè Sài Gòn sử dụng nhiều nguyên liệu trái cây, nhiều loại thạch phong phú, nước cốt dừa béo ngậy đã thổi một làn gió tươi mát, bổ sung thêm màu sắc vào bức tranh ẩm thực thủ đô.

4. Ốc Sài Gòn

Nếu ốc ở Hà Nội chỉ thường có cách ăn đơn giản là luộc sả, chấm nước chấm cay thì thế giới ốc Sài Gòn phong phú và đa dạng hơn rất nhiều. Những món như ốc len xào dừa, chem chép xào bơ tỏi, ốc vú nàng nướng, càng ghẹ muối ớt đã khiến không ít người đam mê ẩm thực phải xao xuyến. Tại Hà Nội có 3 quán ốc Sài Gòn nổi tiếng hơn cả là ốc Vi, ốc Me và ốc Ken. Ngoài ra cũng có không ít quán mở sau, nhưng mang hương vị hấp dẫn không kém.

5. Bún bò Nam Bộ

Bún bò đã có mặt ở Hà Nội từ rất lâu và là một trong các món trộn được người Hà Thành ưu ái hơn cả. Bún trộn Nam Bộ có sự kết hợp từ những nguyên liệu giản dị như bún, bò xào, rau xà lách, giá đỗ, hành phi, tỏi phi, lạc rang, nước mắm chua ngọt. Mỗi thứ một vẻ một vị kết hợp với nhau tạo nên món ăn ngon miệng, mát bổ và hấp dẫn.

6. Cơm tấm

Cơm tấm là món ăn thân thiết với người Sài Gòn cũng giống như người Hà Nội quen ăn phở. Món ăn bình dân này là đặc trưng cho văn hóa ẩm thực đất Sài Gòn. Cơm tấm dùng loại gạo vỡ, ăn kèm thịt sườn nướng, chả trứng, nem rán, trứng ốp la. Cơm tấm đến Hà Nội cũng được người dân thủ đô đón nhận nồng nhiệt, ngày nay ngay tại Hà Nội cũng có rất nhiều quán cơm tấm ngon, giá cả hợp lý.

 Nguồn: tapchi.guu.vn

Hồi ức Điên Biên Phủ: Gặp Đại tướng trên đường ra mặt trận

Bác Hoàng Châu  Kỳ năm nay đã bước sang tuổi 82. Nguyên là Kỹ sư Hữu tuyến điện, nghỉ hưu từ 1993. Bác  là một nhà sưu tập tem, hoạt động phong trào nhiệt thành và đã từng có thời kỳ làm Tổng Thư ký Hội Tem Việt Nam.

Ông Hoàng Châu Kỳ

Hôm 4/3/2014 vừa rồi, anh em trò chuyện, tình cờ bác kể về một câu chuyện xẩy ra đúng ngày này ở Chiến khu Việt Bắc 60 năm trước

… Ngày đó Bưu Điện còn là một Nha thuộc Bộ Giao thông Công chính. Văn phòng Nha năm đó - hồi đầu 1954 - còn đang đóng tại xóm Cây Hồng thuộc Văn lãng, Đại Từ, Thái Nguyên…

Đây là một địa điểm trong nằm sâu trong “ATK” của Chiến khu Việt Bắc. ATK là An Toàn Khu, nơi mà chúng ta đã giữ được quyền kiểm soát suốt thời kỳ Kháng chiến chống Pháp. Hầu hết các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ đều đóng trong khu vực này. Tuy vậy, nhưng đây là cả một vùng rộng lớn thuộc Thái Nguyên và Tuyên Quang, rừng cây rậm rạp, núi đá hiểm trở, lại có nhiều hang động vừa tiện để sinh hoạt và làm việc bí mật khó phát hiện, vừa dễ tránh đạn bom. Bọn Pháp biết vậy mà không sao bén mảng tới được, chỉ biết dùng máy bay oanh tạc, nhưng đạn bom đâu để rải cho khắp...

Cuộc sống ở ATK ngày đó phân tán, cùng một cơ quan đấy nhưng nhiều khi cách nhau cả mấy quả đồi. Sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh như vậy nên mỗi khi thấy có khách ghé thăm thì quả là cả một sự kiện. Gặp khách là luôn sẵn sàng chăm sóc chia sẻ tận tình. Khách đi rồi mà vẫn còn nhớ mãi…

Ở nơi đây là phải tuân thủ kỷ luật canh phòng bảo vệ hết sức nghiêm mật nhưng ứng xử vẫn mang vẻ kỷ cương nề nếp riêng của một Thủ đô kháng chiên…

“…Hôm ấy là đến phiên tôi được phân công ra ngồi ở thường trực bảo vệ cơ quan”.

… Sau Thu Đông năm 1953, cuộc kháng chiến của chúng ta đã chuyển sang một giai đoạn mới. Không khí chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng khi nào cũng sôi sục, nhất là ở ATK fhì được nghe mọi người bàn tán rất nhiều.

… Từ chỗ chúng tôi ở qua hai quả núi là tới địa phận đèo Khế... Đèo này vừa nằm trên con đường nối giữa hai khu ATK Sơn Dương, Tuyên Quang và Đại Từ, Thái Nguyên, lại vừa là đoạn đường trọng yếu để hành quân sang Tây Bắc. Vì vậy thời gian này thực dân Pháp tập trung ném bom ác liệt. Ngoài bom đan thông thường chúng còn rải rất nhiều bom nổ chậm cố gắng để cắt đứt con đường huyết mạch này.

Ngay từ sớm hôm đó đã thấy 2 “con cổ ngỗng” bay từ phía Hà Nội lên quần thảo bên đèo Khế cả chục phút liền. “Cổ ngỗng” là cái tên mà mọi người dung để chỉ những chiếc máy bay khu trục Xì-pít-phai” của Pháp. Sống thời chiến tranh từ trẻ con cũng biết phân biệt máy bay nào là “Gioongke”, đâu là “Hen cát”, cái nào là “Đa cô ta”… Mỗi loại lại có đặc điểm riêng, loại nào nhiều bom đánh lâu, loại nào bom lớn… là thuộc hết. Đứng ở sườn đồi bên này trông 2 chiếc máy bay nhao lên lộn xuống tôi còn trông rõ được từng quả bom rơi... Chính vì vậy mà các tổ quan sát biết được còn bao nhiêu quả bom chưa nổ.

Chiều hôm đó, chiều vùng sơn cước nắng hạ xuống nhanh… Trong không gian tĩnh lặng đó chợt nghe xa xa có tiếng xe cơ giới. Thời gian này thỉnh thoảng có nghe có tiếng xe chạy trong vùng cũng không còn là chuyện lạ nữa… Rồi từ phía đầu dốc đường vào cơ quan chợt xuất hiện 2 chiếc “com-măng-ca”. Tới khúc đường hẹp xe đỗ lại rồi có 5 anh bộ đội trên xe bước xuống đi về phía cơ quan. Họ có lẽ đều là cán bộ đi công tác xa vì thấy ai cũng mang súng ngắn. Người nọ đi nối người kia như kiểu hành quân, họ bước vào phòng thường trực…

Người đi đầu xuất trình giấy tờ cho tôi có tên ghi là Vi Văn Tuyên, cấp bậc E phó. Theo phiên chế trong quân đội hồi bấy giờ thì A là cấp Tiểu đội, B Trung đội… và E như vậy đã là Trung đoàn phó rồi... Cấp này mà trình giấy thì chắc trong đoàn còn có các cán bộ cấp cao hơn…?

Chợt thấy người đi sau mặc quân phục nhưng để đầu trần, trán cao, tai lớn trông hao hao đồng chí Trường Chinh mà tôi đã có lần trông thấy nên phân vân quay sang hỏi nhỏ người vừa trình giấy: “Anh Thận đó phải không anh?”. Thận là bí danh của đồng chí Trường Chinh ở ATK. Hồi kháng chiến ảnh lãnh đạo đưa trên báo chí đâu có nhiều như bây giờ nên chỉ đã được gặp thì mới biết mặt.

- “Chú hỏi làm gì?”

- “Để em đưa vào gặp anh Bình!”. Ngày đó tôi còn nhỏ, tuổi chưa đầy 20. “Anh Bình” ở đây tức là đồng chí Trần Quang Bình mà sau này làm Tổng Cục trưởng đầu tiên của ngành Bưu điện. Hồi đó anh đang là Giám đốc Nha.

… Đưa đoàn tới gặp anh Bình tôi thấy anh đón tiếp có vẻ nồng hậu lắm. Sau khi làm việc anh lập tức chuyển sang ở nhà khác, dành trọn cho đoàn cả căn nhà mà anh đang ở và làm việc.

Rồi ngay sau đó lại thấy mấy anh bộ đội khẩn trương đi chăng dây mắc anten và họ bắt tay ngay vào làm việc. Đến giờ ăn, bọn tôi xuống mời cơm cũng không lên. Họ bảo Đoàn đã có mang theo cả cấp dưỡng riêng rồi…

… Tối đó, anh Lê Trọng Phúc, thư ký riêng của anh Bình thì thầm với tôi: “Đoàn anh Văn mày ạ. Ông hồi trước là thầy giáo của tao đấy! Các anh ấy đang ra mặt trận nhưng đường còn bom nổ chậm nên phải ghé vào đây nghỉ tạm…”.  “Anh Văn” chính là bí danh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp!

Anh Phúc sau cũng có thời làm Phó Giám đốc Bưu điện Hà Nội…

“Hôm đó là ngày 4/3/1954, tôi còn nhớ rất rõ”.

“Mười hai ngày sau, ngày 16/3/1954, tôi cũng được lãnh đạo Nha cử vào đoàn Bưu điện tiền phương lên Điện Biên Phủ phục vụ chiến dịch!...

Nhanh nhẹn, khỏe mạnh… tôi chuyên quay ragonot để phát điện cho các máy thu phát vô tuyến làm việc. Nằm gần Chỉ huy Sở, đơn vị Bưu điện này ngoài các máy  vô tuyến còn có cả 1 tổng đài 10 số và là đầu mối kết nối giữa 2 mạng dân chính và quân sự ở Điện Biên Phủ ngày đó…

Hoàng Châu Kỳ - M.C. ghi chép

Tạp chí Tem

Điều ít biết về Tô Vĩnh Diện

Sau 8 tháng huấn luyện ở Trung Quốc, tháng 12 năm 1953, Tô Vĩnh Diện cùng đơn vị về nước và ngay lập tức hành quân lên Điện Biên Phủ để chuẩn bị tham chiến.

Tôi trở lại Điện biên sau hơn 10 năm. 

Sở chỉ huy Mường Phăng, hầm De Castries, đồi A1, các nghĩa trang.. đều khang trang sạch đẹp chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Điện Biên một chiến thắng mang tầm vóc vĩ đại, mở ra một trang mới cho dân tộc Việt Nam nhưng khi vào nghĩa trang mới chạnh lòng vì những người làm nên chiến thắng đều không có tên tuổi. Cả một nghĩa trang mà chỉ có 4 anh hùng và ít người có tên trên bia mộ, còn lại là vô danh. Hầu hết tên các anh chỉ được ghi trên bức tường của nghĩa trang.

Cùng đoàn thắp hương kính viếng hương hồn các chiến sỹ, tôi tranh thủ thắp hương cho các anh hùng Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Trần Can. Tôi đứng lâu trước mộ anh hùng Tô Vĩnh Diện, nghĩ về chiến công của anh, nhớ về ngôi làng đã sinh ra anh. Thật ra trên sách báo vẫn lẫn lộn huyện của anh và ít ai biết được ngôi làng đã sinh ra anh thế nào.

Nghĩa trang liệt sỹ bên đồi A1

Làng cổ Lan Khê ngày xưa nay là xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngày Tô Vĩnh Diện vào bộ đội vẫn còn là một xã của huyện Nông Cống. Sau này Triệu Sơn được hình thành bởi một số xã của Thọ Xuân cắt về và của Nông Cống cắt lên. Tên Triệu Sơn được đặt mang ý nghĩa là nơi mà Bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa.

Ngôi làng của Tô Vĩnh Diện có cách nay hơn 500 năm.

Ngày ấy sau cuộc khởi nghĩa Lê Lợi thắng lợi, chính quyền nhà Lê có chính sách khai khẩn đất đai. Một số trai làng của Thọ Xuân rủ nhau theo dòng sông nhà Lê (Sông Đào có từ thời Lê Hoàn) xuôi xuống đến vùng đất chân núi Nưa thì dừng lại khai phá. Đây là vùng núi non rậm rạp nhưng bằng phẳng. Ngày xưa Nguyễn Chích cũng đã từng luyện quân khởi nghĩa ở vùng này trước khi theo Lê Lợi.

Lan Khê ngày ấy sau này là xã Nông Trường có truyền thống hiếu học. Những người họ Nguyễn Hà trong những thanh niên đầu tiên đi khai phá và sau này cũng có nhiều người đỗ đạt nhất. Nguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn là hai cha con đều đỗ Tiến sỹ dưới thời Lê-Trịnh làm tới chức Thượng thư đứng đầu triều. Nguyễn Hoàn còn làm Tổng tài Quốc Tử Giám đã soạn nhiều bia Tiến sỹ trong đó. 

Mặc dù quê hương có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là vùng quê nghèo, chỉ thuần nông.

Gia đình Tô Vĩnh Diện không có đất. Anh sinh năm 1924, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, phải chịu bao cảnh áp bức bất công.

Tô Vĩnh Diện là cậu bé rất năng động. Đi chăn bò cậu thường tụ tập nhau lại đánh trận giả. Cậu thường chỉ huy và gan lì. Đặc biệt, Diện có tài leo trèo. Đền Trại, nơi thờ quận công Nguyễn Hiệu là nơi tôn nghiêm, cây cối rậm rạp, chim về làm tổ nhiều. Nhưng dù là tổ ở tít ngọn cây cao hay nơi nóc đền, cậu thường trèo lên và bắt được.

Tuổi 17, 18 của Diện trùng với những ngày cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt nhất. Bộ đội về làng rất đông. Phong trào mẹ nuôi chiến sĩ được mở ra. Mẹ Tô Vĩnh Diện cũng như các bà mẹ khác đều nhận các anh làm con nuôi. 

Chính trong những ngày đó, Diện cũng như các trai tráng của làng hiểu thêm đời chiến sĩ, gian khổ nhưng tự hào. Anh cùng một số thanh niên xung phong nhập ngũ vào năm 1949.

Tháng 3/1953, anh được triệu tập để tham gia lực lượng pháo phòng không sắp thành lập. Khi đơn vị cao xạ được thành lập, anh cùng đơn vị sang Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) để huấn luyện. Anh được chỉ định là Trung đội phó thuộc Đại đội 829, tiểu đoàn 394, trung đoàn 367 và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.

Sau 8 tháng huấn luyện ở Trung Quốc, tháng 12/1953, Tô Vĩnh Diện cùng đơn vị về nước và ngay lập tức hành quân lên Điện Biên Phủ để chuẩn bị tham chiến. Anh được điều về đại đội 827 làm Trung đội phó Trung đội 2, trực tiếp phụ trách Khẩu đội 3 thay Khẩu đội trưởng bị thương. 

Khẩu đội anh được giao sử dụng khẩu pháo cao xạ 37mm số hiệu 510681, thuộc loại pháo phòng không 37mm nòng mẫu 61-K kiểu M1939 có gắn lá chắn đạn, do Liên Xô sản xuất và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối năm 1953 lớp học nhận nhiệm vụ lên đường hành quân về Việt Nam.

Đơn vị tập kết ở Bằng Tường, qua ngả Lạng Sơn về tập trung ở chiến khu Cao-Bắc-Lạng trong khí thế hừng hực chuẩn bị ra trận. Thấy bộ đội ta có súng to, nhân dân khắp vùng và những đoàn dân công hỏa tuyến ùn ùn kéo đến xem.  Nhiều người đứng ngẩn người ra ngắm nghía và xin được mở bạt ra xem. 

Có cụ già người Tày đã trên 70 tuổi, đến phân trần: “Bố ở cách đây hơn 10 cây số, nghe tin bộ đội mình nhận được súng to, cả bản sung sướng lắm. Phen này nhất định mình thắng to, bố phải nắm cơm đi bộ lên tận nơi xem cái súng to này. Các con phải cho bố xem nó tận nơi mới được”.

Để giữ bí mật cho hai loại pháo lựu 105mm và cao xạ 37mm lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường, các đơn vị này đều hành quân vào ban đêm, liên tục trong các ngày 13, 14 và 15/1/1954, từ Tuần Giáo vào tập kết ở kilômét 63 đường 42. 

Sau đó, từ vị trí tập kết, bộ đội phải kéo pháo bằng sức người trên đường quân sự mới mở, có chỗ phải vượt qua núi cao 1450m để vào trận địa cách xa vị trí tập kết 15km. Từ trưa ngày 16/1, được sự trợ giúp của bộ binh và công binh, các đơn vị bắt đầu kéo pháo, đến ngày 24/1 mới đưa được pháo vào trận địa.

Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em.

Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, anh đã đi sát từng người, động viên giải thích nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.

Tác giả bên mộ anh hùng Tô Vĩnh Diện tại nghĩa trang liệt sỹ A1

Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong, Tô Vĩnh Diện cùng chiến sỹ Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. 

Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, chiến sỹ Ty bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo”. Anh đã lái pháo đâm vào vách núi, riêng anh bị bánh pháo chèn ngang người, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.

Quê hương Nông trường của Tô Vĩnh Diện trong kháng chiến chống Mỹ có thêm nhiều anh hùng và dũng sỹ. Cả xã có gần 100 liệt sỹ. Nông Trường vinh dự được phong tặng đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dán.

Ngày còn sống, ông cụ thân sinh ra Tô Vĩnh Diện đã được nhà nước cho lên thăm Điện Biên. Cụ đã rất xúc động thắp hương cho các chiến sỹ vô danh. 

Cụ nói anh còn có tên trên bia mộ là may mắn hơn nhiều những đồng đội khác. Gia đình không đưa thi hài của anh về mà để anh mãi mãi bên những người đồng đội, mãi mãi với mảnh đất Điên Biên yêu dấu.

Nguyễn Đăng Tấn

Hồi ký về lãnh tụ lập quốc Israel ra mắt tại Hà Nội

(ICTPress) - Đúng ngày kỷ niệm 66 năm ngày Độc lập Nhà nước Israel, ngày 6/5, tại Thư viện Quốc gia - Hà Nội, Đại sứ quán Israel tại Việt Nam phối hợp cùng Alpha Books đã tọa đàm và ra mắt cuốn “Tiểu sử David Ben-Gurion - Lịch sử hình thành nhà nước Israel”.

“Tiểu sử David Ben -Gurion - Lịch sử hình thành nhà nước Israel” là cuốn tiểu sử kể về cuộc đời từ những năm tháng tuổi thơ của cậu bé David Gruen ốm yếu được sinh ra và nuôi dưỡng trong một gia đình sùng đạo với một ông bố luôn dành tâm huyết cho “Tình yêu Ziôn” và “Vùng đất Israel”, đến khi từ giã cuộc đời trong niềm tiếc thương vô hạn của Israel với bao nhiêu cống hiến của ông với đất nước, con người, nhà nước Israel trên từng chặng đường đời.

Hình ảnh Ben-Gurion trên Tạp chí Time

Nhà nước Israel được thành lập năm 1948 là nhờ công lao của những người cha lập quốc mà tiêu biểu là Ben-Gurion. Ông sinh ngày 16/10/1886 và mất ngày 1/10/1973. Ấp ủ hoài bão về công cuộc phục quốc của người Do Thái từ khi còn rất nhỏ, Ben-Gurion đã đóng vai trò then chốt trong việc thành lập nhà nước Israel năm 1948 và sau này ông được Tạp chí Time bầu chọn là 1 trong 100 nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ 20.

Tháng 5/1948, Ben-Gurion tuyên bố về nền độc lập của nhà nước Israel và ông đã nói Nhà nước mới sẽ ủng hộ sự bình đẳng hoàn toàn về xã hội và chính trị của mọi công dân của mình, không phân biệt sắc tộc, tín ngưỡng hay giới tính.

Con người vĩ đại này đã biến ước mơ từ ngàn đời của dân tộc Israel thành hình, xóa bỏ cuộc sống lưu vong của hàng vạn người Do Thái trên khắp thế giới, mang họ đến Israel trong những cuộc giải thoát ngoạn mục. Cuối cùng, ông đã đưa đất nước Israel bị cô lập giữa thế giới Ả-rập trở thành cường quốc quân sự và khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bậc. Các thành tựu sáng chói và cả những quyết định sai lầm đằng sau những nỗi thống khổ và hy vọng, giấc mơ thầm kín của Ben Gurion - vị lãnh tụ lập quốc vĩ đại của dân tộc Israel, tất cả đều được tác giả vén lên bức màn bí mật trong cuốn sách này.

Đại sứ nhà nước Israel tại Việt Nam Meirav Eilon Shahar trao đổi về cuộc đời và sự nghiệp của Ben-Gurion

Tại buổi tọa đàm, Đại sứ nhà nước Israel tại Việt Nam Meirav Eilon Shahar chia sẻ một thông tin cảm động người cha thân yêu của Đại sứ và Ben Gurion từng sống ở cùng một thành phố tại Ba Lan. Cha của bà cũng từng tham gia phong trào lập quốc của Ben-Gurion và khi nhìn lại cuộc đời của ông qua từng trang sách của cuốn Hồi ký này đã gợi cho bà nhớ tới những điều mà người cha của bà phải trải qua. Bởi vậy, bà đã chọn cuốn tiểu sử Ben Gurion để giới thiệu đến độc giả Việt Nam vào đúng ngày kỷ niệm 66 năm Ngày quốc khánh Israel.

Đại sứ Israel Meirav luôn dành những lời ca ngợi về tài lãnh đạo, tài chính trị,  quân sự, sự mạnh mẽ và quả cảm, anh dũng cho vị lãnh tụ vĩ đại Ben Gurion đã giúp người dân Do Thái và đất nước Israel được như ngày hôm nay. Người dân Israel đời đời tôn kính và biết ơn Người.

Đặc biệt, trong cuốn sách cũng đề cập tới cuộc gặp gỡ và đàm đạo về ước mơ, hoài bão, cũng như tầm nhìn chiến lược về việc xây dựng nhà nước độc lập cho mỗi dân tộc giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ben Gurion năm 1946 tại Paris. Câu chuyện gặp gỡ này cũng đã được đăng tải trên tờ Điện tín Do Thái tháng 11 năm 1976.

Đại sứ Meirav và PGS. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cũng cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ben-Gurion có nhiều điểm tương đồng. Cả hai vị lãnh tụ vị đại này đều là nhà chính trị tuyệt vời, là vị Cha già kính yêu của dân tộc. Hai Người đều mang nét giản dị khiêm nhường, có cuộc sống giản dị, thanh bạch; cuộc đời và sự nghiệp vô cùng vĩ đại. Là những nhà lập quốc luôn để giáo dục là mục tiêu đặt lên trên hết và những con người vĩ đại ấy đều ra đi trong tình thế đất nước chưa hoàn toàn giành được độc lập.

Ben Gurion chưa bao giờ đồng ý cho bất cứ ai viết hồi ký của ông, đó là trước khi ông gặp Michael Zar-Bohar, tác giả đã viết cuốn hồi ký này. Qua những tiếp cận về các tài liệu của ông, tác giả đã khai thác từ một phần cực nhỏ trong tất cả kho tài liệu khổng lồ ấy để khắc họa chân dung thực chất của người đã thực hiện hóa giấc mơ về một quốc gia lý tưởng của người Do Thái - một chính khách quyết đoán thực hiện các quyết định sinh tử cho vận mệnh của đất nước Israel, và một người đàn ông cô đơn trên đỉnh cao quyền lực.

Cuốn sách “Tiểu sử David Ben-Gurion - Lịch sử hình thành nhà nước Israel” được viết và xuất bản sau khi vợ chồng Ben-Gurion qua đời. Nhưng điều đó khiến Michael Bar-Zohar dễ dàng xử lý một cách tự do vài khía cạnh về đời tư của Ben-Gurion hơn, nếu vợ chồng Ben-Gurion còn sống thì tác giả sẽ không đụng đến.

Ông Nguyễn Cảnh Bình, đại diện Alpha Books chia sẻ về lý do xuất bản cuốn sách Ben-Gurion cho biết tiếp nối của cuốn “Quốc gia khởi nghiệp” về sự thần kỳ của nền kinh tế của Israel, hôm nay cuốn sách này về nhân vật, con người, lịch sử nhà nước Israel được ra mắt, Alpha Books mong muốn mang đến cho độc giả Việt Nam những câu chuyện, những bài học để người Việt Nam hiểu biết thêm về đất nước và dân tộc Israel để chúng ta tiếp tục phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa hai quốc gia, hai dân tộc, qua đó thúc đẩy sự hợp tác phát triển khoa học, kinh tế, giáo dục, và nông nghiệp mà vài năm hai nước đẩy mạnh.

Đây là một trong những cuốn sách đầu tiên trong bộ sách “Kiến thiết quốc gia” mà Alpha Books đã mong muốn, dự kiến xuất bản và giới thiệu với độc giả Việt Nam về câu chuyện, những đóng góp của nhân vật cho quốc gia và dân tộc đó, ông Bình cho biết thêm.

Đại sứ Meirav Eilon Shahar tặng sách cho Thư viện quốc gia và các khách mời

Ben-Gurion có một câu nói nổi tiếng trong cuộc phỏng vấn trên CBS ngày 5/10/1956: Ở Israel để trở thành một người thực tế bạn phải tin vào những điều kỳ diệu - In Israel in order to be a realist you must believe in miracles. Vậy khi đọc cuốn sách này cũng như cuốn sách “Quốc gia khởi nghiệp”, người đọc hãy tự tin và có thể tin vào những điều kỳ diệu trên mảnh đất Việt Nam.

Tại Lễ ra mắt cuốn sách Alpha Books đã trao tặng 10 cuốn sách cho Thư viện Quốc gia và 1000 ebook cho sinh viên các trường Đại học FPT, Học viện Ngoại giao và Báo chí.

 Nguyễn Dung

Gặp cựu binh Điện Biên

Lời giới thiệu: Trong chuyến công tác của các nhà báo Liên chi hội nhà báo Thông tin và Truyền thông lên Điện Biên trong dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, đoàn đã gặp ông Vũ Lâm - người lính thông tin trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhà báo Nguyễn Đăng Tấn, Báo điện tử Vietnamnet khi đã cảm xúc và viết ngay bài thơ trên đường đi. Bài thơ không chỉ viết về người cựu binh mà từ cái tứ đó để nói về chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc, bản hùng ca Điện Biên.

Nhà báo Nguyễn Đăng Tấn cũng cảm xúc về vẻ đẹp hoa ban, núi rừng Tây Bắc qua bài thơ "Vẫn thắm một sắc hoa".

Nhà báo Nguyễn Đăng Tấn và ông Vũ Lâm - người lính thông tin trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Anh người lính thông tin

Trong sở chỉ huy Mường Phăng năm ấy

Chặng đường 60 năm giờ trở lại

Trước sở chỉ huy Đờ Cát người lính già rưng rưng

 

Hai sở chỉ huy chỉ cách một cung đường

Cả dân tộc phải 56 ngày máu đổ

Hàng vạn người đã ngã

Để Điện Biên không chỉ của người Việt Nam

 

Trời Mường Thanh rực rỡ nắng vàng

Cả dân tộc hôm nay về tụ hội

Điện Biên đang vươn lên tầm cao mới

Và người cựu binh ngực lấp lánh huân chương

 

60 năm có một con đường

Võ Nguyên Giáp, tổng tư lệnh người anh cả

Người lính già nhìn dòng người hối hả

Nhớ năm xưa Điện Biên máu và hoa...

27-4-2014

Vẫn thắm một sắc hoa

Cho P.

Sơn La  mười năm giờ trở lại

Vẫn những con đường thân thuộc đã đi qua

Vẫn những ngôi nhà nghiêng nghiêng sườn dốc

Vẫn những nụ cười cô gái Thái thiết tha

 

Nơi ngày xưa bông hoa ban tím biếc

Lộng lẫy tinh khôi sắc tím mặn mòi

Phải không vậy nên cồn cào nỗi nhớ

Để hồn người cứ thao thức khôn nguôi

Năm tháng trôi xa lòng không xa cách

Để khi trở về hoa vẫn mãi thắm tươi

E ấp nụ hôn cánh hoa tím biếc

Để trời đêm gió thổn thức bồi hồi.

25-4- 2014

Nguyễn Đăng Tấn

 VietnamNet

Life & English: "Long Bien bridge"

A Hanoi view with some corners of Long Bien bridge.

Long Bien bridge. View from Long Bien district.
Red river.
A small floating village on Red river, under Long Bien bridge.
Foreigners come and see Long Bien bridge.

Long Bien bridge. View from the floating village.

(Photos: Happy N.)

 

 

Triển lãm ảnh “Hà Nội - những mùa hoa”

Hà Nội luôn vẫn thế, tự tâm là tụ nhau. Bóc cái lớp vẻ ngoài vội vàng náo nhiệt của đô thị là thấy ngay tâm hồn sâu lắng, yêu thương chia sẻ trong mỗi người. 

Sau thành công của triển lãm Chăn ấm lần đầu tổ chức vào tháng 11/2013 với kết quả đã đem 1516 chăn đến cho các em bé vùng cao. Chăn ấm lại tiếp tục tổ chức triển lãm lần này với chủ đề “Hà Nội những mùa hoa” - Khoảnh khắc của bốn mùa đều được ghi lại qua 36 bức hình của những người bạn với mọi ngành nghề khác nhau nhưng cùng sống, sinh nơi đây và đam mê với nhiếp ảnh chỉ vì một tình yêu Hà Nội.

Triển lãm được tổ chức từ Thứ Sáu, ngày 9/5 đến hết Chủ nhật 11/5/2014 (từ 07h30 – 22h00) tại không gian quán cà phê Le Bon, sân Bảo tàng Lịch sử, số 01, phố Phạm Ngũ Lão, quận Hoàn Kiếm trong giai điệu của những bản nhạc về Hà Nội.

Mời các bạn đến dự và cùng chung tay đóng góp cho chương trình Chăn ấm vùng cao. Sự đồng lòng của những trái tim thiện nguyện sẽ là Sợi tơ Tình bền chắc, xen - mắc những mùa hoa, dệt chăn ấm chan hòa, tình người miền xuôi ngược. Chung tay cùng điều ước: Nhiều chăn ấm tặng Em.

BTC

Sách ảnh "Đại tướng Võ Nguyên Giáp" song ngữ Việt - Anh tái bản

(ICTPress) - Tên tuổi của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp luôn gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủ - Trận thắng thế kỷ, đã làm vang dội non sông, chấn động địa cầu.

Nhân dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 - 2014) và nhằm đáp ứng sự mong đợi của bạn đọc trong và ngoài nước, cuốn sách ảnh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp” đã được Cục Thông tin Đối ngoại cùng với Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tái bản kịp thời ra mắt bạn đọc.

Cuốn sách ảnh song ngữ Việt - Anh “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp” đã đến với bạn đọc nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của Đại tướng (năm 2011). Cuốn sách là một câu chuyện sống động về cuộc đời và sự nghiệp của vị tướng huyền thoại, Ngay sau khi ra đời, cuốn sách đã được đông đảo bạn đọc trân trọng và nhiệt thành đón nhận.

Cuốn sách được tái bản lần này mang đến cho bạn đọc những bức ảnh mới nhất về chân dung cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đặc biệt là những bức ảnh đầy xúc động ghi lại dấu ấn trang trọng của Lễ tang tiễn vị Tướng lỗi lạc về đất mẹ, để lại niềm tiếc thương vô hạn của toàn Đảng, toàn dân và bạn bè quốc tế dành cho Người.

Cuốn sách là tấm lòng thành kính của mỗi chúng ta dâng lên Người với niềm tự hào về một Con Người đã đi vào huyền thoại.

Lời tựu cuốn sách do Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng viết: Với gần 300 bức ảnh chọn lọc, cuốn sách ảnh Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã phác họa khá đầy đủ và chân thực bức chân dung sống động về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Võ Nguyên Giáp - một vị tướng tài ba, một nhà cách mạng nổi tiếng, một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người con ưu tú của dân tộc, được nhân dân cả nước yêu mến và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ.

Qua cuốn sách này, chúng ta càng hiểu thêm và càng tự hào về sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thể nói, tên tuổi của Đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng tên tuổi của các bậc tiền bối, lão thành cách mạng đã trở thành biểu tượng cho cả một thế hệ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đào tạo, gây dựng, góp phần làm nên một thời đại vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

Cuốn sách có giá trị không chỉ đối với nhân dân ta mà đối với cả bạn bè quốc tế, không chi cho thế hệ hôm nay mà cho cả các thế hệ mai sau.

Minh Anh

Chuyện ít biết về người lính thông tin trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

“Sư 312 chuẩn bị tấn công! Nhận được chỉ thị từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lính thông tin lại vác dây trên vai rồi cứ thế mà chạy đi truyền thông tin…”

Biểu tượng chiến thắng luôn được người lính thông tin Vũ Lâm mang bên mình

Đứng trước hầm tướng Đờ Cát, ông Vũ Lâm - người lính thông tin năm nào say sưa miêu tả lại cách truyền tải thông tin trong chiến dịch Điện Biên Phủ.Về với Điện Biên trong dịp kỷ niệm 60 năm, chúng tôi tình cờ gặp ông Vũ Lâm, nguyên là Tiểu đội trưởng phụ trách thông tin trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đã 81 tuổi đời, nhưng người lính Vũ Lâm vẫn rắn rỏi, khỏe mạnh, nhiệt huyết với giọng nói hào sảng. Mặc cho cái nắng oi bức giữa miền Tây Bắc, ông Lâm vẫn nhiệt tình đưa thế hệ con cháu - những du khách không hẹn mà gặp trở về với ký ức trong trận chiến lịch sử lừng lẫy năm châu.

Để làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ phải kể đến vai trò không hề nhỏ của mạng lưới thông tin cùng những người lính đảm nhận nhiệm vụ này. Nổ súng ở đâu? Bao giờ? Đánh nhanh hay đánh chắc?… Tất cả các chỉ thị từ chỉ huy cũng như của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đều được những người lính thông tin truyền đi một cách nhay nhạy, kịp thời.Ông Vũ Lâm nhớ lại, trong chiến dịch Điện Biên Phủ thường có 3 loại thông tin. Nói về thông tin bằng bộ đàm, ông Lâm giơ ngón tay trước miệng rồi diễn tả: “Sông Hồng gọi sông Thao nghe rõ nói đi…”. Còn thông tin bằng dây kéo thì lính thông tin sẽ vác dây trên vai, chạy đi khắp nơi để truyền thông tin.Loại thứ ba, thông tin đánh bằng mật mã là “tạch tè, tạch tè, tạch tè…”.

Toàn bộ mạng lưới thông tin được tổ chức dày đặc trong toàn chiến dịch, sẵn sàng báo lệnh để các lực lượng triển khai chiến đấu.

Người lính thông tin Vũ Lâm và tấm hình chụp kỷ niệm với Đại tướng Võ Nguyên Giáp

“Ngày ấy tôi chỉ mới 20 tuổi đời, giàu nhiệt huyết lắm. Nhiệm vụ chuyên môn của chúng tôi là đi báo tin mời lên họp, báo lệnh cho nổ súng ở đâu, khi nào… Chẳng hạn bác Giáp phát lệnh Sư 312 chuẩn bị tấn công. Tôi có nhiệm vụ truyền thông tin đó đến các lực lượng tác chiến.Đánh thắng hay không là do các Sư, còn nhiệm vụ của tôi là chỉ huy bảo sao thì truyền tin như vậy. Lực lượng truyền tin lúc đó cũng hi sinh nhiều lắm, trong đó bị dính đạn đại bác là nhiều nhất”...

Như nhiễm “bệnh nghề nghiệp”, thỉnh thoảng ông Lâm lại nhắc lại câu: “thông tin nói ra thì phải chính xác”. Để dẫn chứng cho tính xác thực về sự hi sinh của lực lượng thông tin vừa kể, ông Lâm kể ra hàng loạt các tên tuổi lớn thời điểm đó: ông Hoàng Đạo Thúy là Cục trưởng Cục thông tin liên lạc, ông Trần Văn Quang là Cục trưởng Cục tác chiến, ông Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng, ông Trần Đăng Ninh - Tổng Cục trưởng Tổng Cục Hậu cần… Bỗng trầm ngâm nét mặt, ông Lâm hướng mắt ra khu nghĩa trang liệt sĩ rồi thì thào: “Có được chiến thắng Điện Biên Phủ 60 năm trước chính là nhờ sự đấu tranh kiên cường, dũng cảm hi sinh không tiếc xương máu của quân đội ta. Những Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện… đều là những tấm gương điển hình”.

Bên cạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc chiến này giành thắng lợi còn nhờ vào sự ủng hộ hết lòng của người dân. Cho rằng hậu cần là điều vô cùng quan trọng trong mỗi trận chiến, ông Lâm bảo: “Nếu không có dân chắc sẽ không thể đánh thắng được quân thù và chắc sẽ không có được ngày hôm nay”.

Thế hệ trẻ say sưa nghe ông Lâm kể về vai trò của người đưa tin trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Người lính thông tin năm xưa nhớ lại, khó khăn lớn nhất và cũng là điểm mấu chốt trong chiến dịch Điện Biên Phủ chính là chiến thuật tác chiến.Lúc đầu chúng ta nghe theo lời khuyên của nước bạn, áp dụng chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh”. Nhưng chiến thuật này không hiệu quả. Đau xót trước sự hi sinh của quân dân, mặc cho một số ý kiến phản đối, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn quyết định chuyển chiến thuật, từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”.

“Bác Giáp là người giữ xương máu cho bộ đội rất nhiều. Không có bác Giáp thì bộ đội ta còn hi sinh nhiều nữa. Trong khi địch có hầm, còn quân đội ta từ ngoài đánh vào nên thương vong nhiều hơn…” –- ông Lâm nhận định.Cái nắng mỗi ngày một gay gắt, nhưng người lính thông tin năm nào vẫn ngồi đó, say sưa kể cho con cháu nghe những kỷ niệm hào hùng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Thành phố Điện Biên nay đã khác xưa, đẹp đẽ hơn. Những mỗi lần trở về thăm chiến trường xưa, người lính thông tin năm nào vẫn dâng trào một niềm cảm xúc. Mọi ký ức ông Lâm còn nhớ rõ, cứ như ngày hôm qua. Kỷ vật ông luôn mang theo mình là một cuốn sổ ghi chép đầy đủ, chi tiết về cuộc chiến năm xưa, và một hai tấm hình chụp lưu niệm cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí, đồng đội.

Thỉnh thoảng có mấy đoàn thăm quan nhã ý muốn chụp ảnh cùng, ông Lâm đều nhiệt tình tham gia. Vài du khách khi nhắc đến những “đồng nghiệp” nào đó, ông Vũ Lâm mừng rỡ lắm. Rồi ông không ngớt hỏi thông tin về gia đình, nơi sinh sống, về sức khỏe “đồng đội” giờ ra sao…

Nguyễn Hoài - Nguyễn Dũng

Infonet

Một giọt lệ cho những linh hồn vương vất

Có một nơi tưởng niệm những binh lính Pháp đã tử trận trong 56 ngày đêm ở nơi mà với họ là hỏa ngục. Nơi tưởng niệm đó ở chính ngay trong lòng Điện Biên Phủ.

Trở lại nơi chiến trường xưa, Điện Biên nay đã là một thành phố trẻ đang thay đổi từng ngày. Cách đây vài chục năm, đứng ở những điểm cao, phóng tầm mắt ra xung quanh, có thể thấy những địa danh lịch sử nổi tiếng từng quen thuộc trong sách vở thì nay nhiều nơi đã bị che khuất bởi những ngôi nhà cao tầng, những con phố, những công trình xây dựng mới.

Sau gần một ngày đến với những địa danh đã đi vào lịch sử, còn chút ít thời gian của buổi chiều muộn, chúng tôi đến thăm một địa điểm không nằm trong danh sách di tích liên quan đến chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hỏi đường, không người nào biết đến - kể cả dân vốn thạo đường nhất là cánh lái taxi. Chúng tôi đành nhờ một nhà báo địa phương dẫn đường mà chính anh cũng chưa đặt chân đến, phải gọi điện về tòa soạn để được một thông tin ngắn gọn: nơi ấy cách hầm De Castries 300 mét ở phía tây nam thành phố.

Đó là nơi tưởng niệm những người lính Pháp đã ngã xuống trong 56 ngày đêm ở nơi mà với họ đã trở thành hỏa ngục.

Chúng tôi tìm đến khu tưởng niệm vào lúc xế chiều, trời đã bắt đầu chạng vạng. Qua hầm De Castries, chiếc taxi đi chậm lại. Nháo nhác nhìn quanh, cứ nghĩ sẽ thấy một khu tiêu điều các nấm mồ vô chủ "rầu rầu ngọn có nửa vàng nửa xanh" như cụ Nguyễn Du đã tả mà không gặp.

Anh lái xe đưa tay chỉ: không hiểu nó có thể là chỗ kia không. Một khu đất vuông vắn rộng chừng 1.200 mét vuông, có tường bao quanh, quét vôi trắng, nằm giữa khu dân cư trông tựa như một công viên.

Chúng tôi dừng xe bước lại gần. Cửa khóa. Không một tấm biển gắn ngoài cửa để biết đây là đâu. Nhìn qua những qua chấn song, thấy một chiếc tháp, nổi lên ở giữa vườn cây rất sạch có những vuông cỏ xanh mướt, bố trí khá đẹp. 

Tấm biển đồng gắn trên tháp quá nhỏ và gỉ loang lổ, dùng ống kính máy ảnh chụp được ở khoảng cách lớn, zoom lên cũng không đọc nổi. Chúng tôi đang lúng túng thì có mấy em nhỏ nhà ở xung quanh tò mò, bước đến và cho hay đây chính là địa điểm tưởng niệm quân Pháp tử trận ở Điện Biên.

Thấy trong một góc của khuôn viên, ánh đèn vẫn sáng từ trong một phòng trực hắt ra, biết là có người chúng tôi gọi nhưng không ai trả lời. Người bảo vệ đi vắng. Chúng tôi lúng túng và rất sốt ruột đi vòng quanh hồi lâu, tìm cách vào thì may thay, người bảo vệ trở về. Anh vui vẻ mở cửa đón khách vào và tình nguyện làm người hướng dẫn cho đoàn.

Qua chiếc cổng sắt có chân song thưa, khi vào tận nơi, đập vào mắt là tấm biển đồng gắn trên đài "Dành cho các sĩ quan và binh sĩ quân đội Pháp tử trận tại Điện Biên Phủ", dưới ngay đó là một tâm bia đá trắng nằm nghiêng một góc chừng 15 độ.

Trời tối, dưới ánh sáng từ xa rọi vào đủ để chúng tôi vừa nhìn, vừa sờ vết khắc để đọc những dòng chữ, trên tiếng Pháp, dưới tiếng Việt: "Đài tưởng niệm này được dựng lên do sáng kiến của ông Rolf Roder - cựu chiến binh Pháp, trung sĩ chỉ huy đội biệt động xung kích, thuộc Đại đội 10, tiểu đoàn 4, trung đoàn 3 bộ binh lê dương đóng tại Hồng Cúm khánh thành ngày 7/5/1994 nhân dịp kỷ niệm 40 năm Điện Biên Phủ với sự hỗ trợ của Hội Cựu chiến binh quốc gia và Hội cựu chiến binh lê dương".

Phía trước bệ của tương đài là những tấm biển nhỏ của các đơn vị phiên chế những người đã khuất hoặc của thân nhân của họ gắn chặt trên tường với những lời tiếc thương, phía sau 5 bát hương.

Vậy là, Đài tưởng niệm đã tồn tại đúng 20 năm về trước. Chúng tôi hình dung ra ngày khánh thành trùng với ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên lần thứ 40 nên có lẽ cũng khá trang nghiêm. 

Ngoài các quan chức Việt Nam, hẳn còn có mặt những nhân vật quan trọng trong Đại sứ quán Pháp và ít nhất có đại diện của các đơn vị từng tham gia chiến dịch cùng thân nhân của những người trong quân đội Liên hiệp Pháp đã bỏ mình ở Điện Biên. 

Bằng chứng là những tấm biển đồng hoặc bia đá họ mang từ Pháp sang, gắn chắc bằng xi măng dưới chân tượng đài.

Anh Lò Ngọc Thuyên, một thanh niên người Thái rất nhanh nhẹn phụ trách việc bảo vệ Khu tưởng niệm đưa cho chúng tôi xem những tấm ảnh chụp ngày 8/5/2004 và cho biết: Cách đây 5 năm, một đoàn Pháp từ Hà Nội lên thăm viếng và đặt mấy vòng hoa tại đây. 

Anh bảo, nếu anh không lầm, thì hôm ấy có Bộ trưởng Quốc phòng mà anh không nhớ tên từ Pháp sang cùng các nhân viên sứ quán Pháp và những sĩ quan cao cấp thuộc một số binh chủng mà anh nhận biết qua trang phục.

Anh cho biết thêm, vào những ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên luôn có những đoàn nước ngoài xa xôi ngàn dặm tới thăm - chủ yếu là người Pháp - và đặt hoa tưởng niệm. 

Khách du lịch đôi khi có những người nước khác nữa đến viếng, có thể vì sự tò mò, xem lời đồn có thực hay không: một đài tưởng niệm dành cho đối phương đâu phải là chuyện thường gặp trên thế giới? Phải có tấm lòng bao dung đến thế nào mới có cách ứng xử độ lượng và nhân văn như vậy?

 

Thấy chúng tôi ngạc nhiên quan sát sự hiện diện của 5 chiếc bát hương với chân nhang còn mới, anh Thuyên giải thích: Trong phong tục dân gian của những người được tưởng niệm, chỉ có nến và hoa mà không có hương, nhưng bọn tôi thấy nếu thiếu mùi hương thơm ngát và những làn khói mờ ảo thì thiếu một cái gì đó trong đời sống tâm linh để "giao lưu" với những người ở thế giới bên kia. 

Thế nên những ngày rằm, mồng một bọn tôi (các anh có 3 người, chia ngày để trực quanh năm) đều thắp cho họ những nén hương.

Anh nói đùa: Những buổi tối trăng thanh, thắp hương lên ngồi dưới bệ đá này, trong khung cảnh vắng vẻ, chúng tôi cảm thấy dù âm dương cách biệt, ngôn ngữ bất đồng nhưng vẫn có cảm giác "thấy hiu hiu gió là hay "họ" về (lẩy Kiều).

Một người trong đoàn châm mấy điếu thuốc, cắm xuống những chiếc chân nhang bảo: "Thứ này chắc hợp với "họ" hơn".

Trước khi về, chúng tôi cúi đầu mặc niệm trong bầu không khí thoang thoảng mùi thuốc là thơm. Hình như có "hiu hiu gió" thật. 

Trong lòng chợt nghĩ, quá khứ đã khép lại. Các đoàn cựu chiến binh ở hai bên chiến tuyến vẫn thường xuyên có những cuộc hồ hởi gặp gỡ, bắt tay nhau, huống hồ với những người đã khuất.

Phong Doanh - Quốc Tín

VietnamNet