Thời sự ICT
Báo Nhật Bản: HP, Dell và loạt công ty công nghệ cân nhắc chuyển sản xuất khỏi TQ
Submitted by nlphuong on Thu, 04/07/2019 - 11:45Một số công ty công nghệ lớn có trụ sở tại Hoa Kỳ đang lên kế hoạch chuyển sản xuất đáng kể ra khỏi Trung Quốc, do cuộc chiến thương mại căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh, báo Nikkei vừa đưa tin.
![]() |
Các nhà sản xuất máy tính cá nhân HP và Dell Technologies đang lên kế hoạch tái phân bổ tới 30% sản lượng máy tính xách tay của họ ra khỏi Trung Quốc, theo Nikkei.
Nikkei cho biết thêm Microsoft, Alphabet, Amazon, Sony và Nintendo đang xem xét việc chuyển một số máy chơi game và sản xuất loa thông minh ra khỏi đất nước.
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có cuộc gặp gỡ tại Hội nghị thượng đỉnh G20 cuối tuần qua tại Nhật Bản, mở đường cho việc tái khởi động các cuộc đàm phán thương mại sau nhiều tháng bế tắc.
Tuy nhiên, các công ty không có khả năng thay đổi kế hoạch chuyển một số sản phẩm ra khỏi Trung Quốc vì họ cũng phải đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn ở đây.
Vào tháng 6, Apple đã yêu cầu các nhà cung cấp lớn của mình đánh giá tác động của chi phí khi chuyển 15% -30% công suất sản xuất từ Trung Quốc sang Đông Nam Á khi họ chuẩn bị tái cấu trúc chuỗi cung ứng, Nikkei đã đưa tin tháng trước.
QA (Theo Nikkei)
Chuyển đổi số VN: Cần ban hành sandbox để start-up Việt tránh nguy cơ hồi tố
Submitted by nlphuong on Wed, 03/07/2019 - 07:40Nếu chính sách sandbox không sớm được triển khai, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những rủi ro lớn về mặt pháp lý, đặc biệt là trong vấn đề hồi tố.
Việt Nam sẽ chuyển đổi số thế nào từ nay đến 2025?
Năm 2018, với tốc độ tăng trưởng 7,08%, nền kinh tế Việt Nam đã đánh dấu mốc mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2008. Tuy nhiên, so với các nước phát triển, Việt Nam vẫn là nước có mức thu nhập trung bình, mức độ cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao.
Một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ thu nhập của người dân là năng suất lao động. Năng suất lao động người Việt Nam còn rất thấp, ngay cả so với các nước trong khu vực.
![]() |
| Nhiều thông tin về hiện trạng chuyển đổi số Việt Nam được chia sẻ tại buổi tọa đàm góp ý cho dự thảo Đề án Chuyển đổi số Quốc gia. Ảnh: Trọng Đạt |
Báo cáo “Mức độ sẵn sàng cho tương lai của ngành sản xuất” được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố vào tháng 1/2018 cũng cho thấy, Việt Nam không nằm trong nhóm các quốc gia sẵn sàng cho nền kinh tế sản xuất tương lai. Theo đánh giá về chỉ số nguồn nhân lực của WEF đối với các nước Đông Nam Á năm 2016, 41% nguồn nhân lực của Việt Nam được đánh giá có kỹ năng thấp, chỉ có 10% được đánh giá có kỹ năng cao.
Trong đó, một số chỉ số được đánh giá yếu kém như “Chỉ số công nghệ và đổi mới” (xếp hạng thứ 90/100), chỉ số “Vốn con người” (xếp hạng thứ 70/100). Các chỉ số thành phần như “Tiếp thu công nghệ ở doanh nghiệp”, “Tác động của ICT đến dịch vụ và sản phẩm mới”, “Năng lực đổi mới” xếp hạng lần lượt là 78/100, 70/100 và 77/100.
Một trong những giải pháp căn cơ, nền tảng nhất để Việt Nam có thể phát triển đột phá trong giai đoạn này là phải chuyển đổi số mạnh mẽ, đi đầu khu vực trong cuộc CMCN 4.0.
Theo báo cáo nghiên cứu của Csiro và Data 61 về kịch bản chuyển đổi số của Việt Nam, nếu không chủ động, chuẩn bị và đầu tư trong lĩnh vực chuyển đổi số thì Việt Nam sẽ rơi vào kịch bản lạc hậu, trong đó, nền kinh tế chuyển đổi số chậm và năng suất lao động trì trệ.
![]() |
| Theo ông Nguyễn Thành Phúc - Cục trưởng Cục Tin học hóa (Bộ TT&TT), quan điểm của Bộ TT&TT là phải tận dụng tối đa cơ hội số để xây dựng xã hội và nền kinh tế số. Ảnh: Trọng Đạt |
Trước tình hình này, Chính phủ đã giao Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) xây dựng Đề án Chuyển đổi số Quốc gia. Tầm nhìn cho Đề án Chuyển đổi số Quốc gia là Việt Nam sẽ trở thành quốc gia số và nền kinh tế số hàng đầu khu vực, nơi thử nghiệm các công nghệ và mô hình mói.
Đối với Đề án này, quan điểm của Bộ TT&TT là phải tận dụng tối đa cơ hội số để xây dựng xã hội và nền kinh tế số. Theo đó, Việt Nam sẽ đi nhanh, đi trước trong một số lĩnh vực như an ninh mạng, công nghiệp ICT, thương mại điện tử,... Các doanh nghiệp số Việt Nam sẽ trở thành một động lực thúc đẩy chuyển đổi số nền kinh tế.
Muốn làm được điều này, cả hệ thống chính trị và xã hội vào cuộc trong chuyển đổi số, xác định rõ nhiệm vụ từng bộ ngành địa phương. Một trong những giải pháp đặt ra là phải triển khai thành công sandbox như một mô hình mới trong cách tiếp cận, giải quyết các vấn đề mới.
![]() |
| Ông Nguyễn Minh Hồng - Chủ tịch Hội truyền thông số Việt Nam khẳng định, chuyển đổi số là xu thế toàn cầu và là tiến trình không thể đảo ngược tại Việt Nam. Ảnh: Trọng Đạt |
Theo dự thảo về Đề án Chuyển đổi số Quốc gia, quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam sẽ diễn ra theo 3 giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 1 (2020 - 2022) sẽ là khoảng thời gian tạo nền tảng (hạ tầng kỹ luật, nhân lực số, hạ tầng pháp lý,...) cho quá trình chuyển đổi số.
Ở giai đoạn 2 (2023 – 2025), Việt Nam sẽ tăng tốc chuyển đổi số trong các lĩnh vực kinh tế xã hội. Đến giai đoạn 3 (2026 – 2030), nước ta sẽ chuyển đổi số toàn diện nền kinh tế, lúc này, xã hội sẽ vận hành dựa trên công nghệ số, đổi mới và sáng tạo.
Mục tiêu của đề án này là đến năm 2025, Việt Nam thuộc top 4 ASEAN về xếp hạng số hóa quốc gia và nằm trong top 40 về Chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia - World Competitiveness Scoreboard của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).
Đề án Chuyển đổi số phải đi vào thực tế, giải quyết được vấn đề sandbox
Tại buổi góp ý cho dự thảo Đề án Chuyển đổi số Quốc gia, nhiều ý kiến đã được các chuyên gia trong nước chia sẻ nhằm đưa Đề án Chuyển đổi số Quốc gia đi vào thực tế cuộc sống.
Theo đại diện Hội vô tuyến điện tử Việt Nam, Việt Nam đã có những bài học về các đề án được thực hiện rất công phu nhưng sau đó lại không khả thi. Ví dụ nhãn tiền nhất là Đề án “Đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT và Truyền thông” hồi năm 2010. Sau khi Đề án được đưa ra, chẳng có gì thay đổi, và cũng chẳng có ai đánh giá và đôn đốc việc thực hiện đề án, đại diện Hội vô tuyến điện tử Việt Nam nhận định.
Do vậy, với Đề án Chuyển đổi số Quốc gia, Hội vô tuyến điện tử Việt Nam đề nghị ban soạn thảo cần phải làm sao để Đề án có giá trị pháp lý, và có cách kiểm tra việc thực hiện của các đối tượng liên quan.
![]() |
| Nhóm chuyên gia góp ý cho dự thảo Đề án Chuyển đổi số Quốc gia. Ảnh: Trọng Đạt |
Hội vô tuyến điện tử Việt Nam cũng đề xuất việc đưa ra các chính sách và giao nhiệm vụ rõ ràng cho các cơ quan trọng điểm của Đề án. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tự mình khảo sát hiện trạng chuyển đổi số trong nước thay vì phụ thuộc vào đánh giá của các tổ chức nước ngoài.
“Cơ sở dữ liệu dân cư là thông số đầu vào cơ bản để thực hiện việc chuyển đổi số quốc gia, thế nhưng chúng ta vẫn chưa làm được đến nơi đến chốn. Nếu không nói được ta đứng ở đâu thì làm sao nói được 5 năm nữa ta sẽ thế nào?”, đại diện Hội vô tuyến điện tử Việt Nam đặt câu hỏi.
Chia sẻ thêm về nhận định này, ông Vũ Kiến Văn - đại diện VNPost cho biết, ở góc nhìn của một doanh nghiệp, khi đọc dự thảo Đề án Chuyển đổi số Quốc gia, bản thân ông cũng chưa biết doanh nghiệp của mình sẽ phải làm gì.
Tuy vậy, ông Văn cho rằng, để chuyển đổi số thành công, các doanh nghiệp rất cần những ưu đãi, tạo thuận lợi của nhà nước, đặc biệt là việc giải quyết vấn đề nguồn nhân lực CNTT và đề ra các chuẩn, tiêu chuẩn cho từng lĩnh vực.
![]() |
| Theo ông Nguyễn Đình Thắng - Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Lienviet PostBank, muốn chuyển đổi số thành công, phải giải quyết sớm vấn đề sandbox. Ảnh: Trọng Đạt |
Theo ông Nguyễn Đình Thắng - Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Lienviet PostBank, Phó Chủ tịch Hội truyền thông số Việt Nam, vấn đề mấu chốt trong đề án Chuyển đổi số Quốc gia là phải giải được bài toán sandbox. Ở một góc nhìn khác, ông Nguyễn Quang Đồng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) cho rằng, Đề án phải lưu ý hơn tới vấn đề quyền riêng tư và an toàn dữ liệu. Điều này nhằm khuyến khích công dân chia sẻ các dữ liệu của mình. Ông Đồng cũng cảnh báo về vấn đề tranh chấp số, điều sẽ sớm bùng nổ ở Việt Nam trong những năm tới đây.
Theo đó, cần đề ra những chính sách cụ thể khi cho phép các doanh nghiệp tiến hành thử nghiệm dịch vụ mới. Điều này nhằm tránh việc hồi tố, nếu không, những người đi tiên phong sẽ phải chịu rủi ro lớn về mặt pháp lý.
Trọng Đạt/vietnamnet.vn
Đức phạt Facebook 2,3 triệu USD do báo cáo chưa đầy đủ việc xử lý nội dung vi phạm
Submitted by nlphuong on Wed, 03/07/2019 - 07:01Theo Reuters, chính quyền Đức đã phạt Facebook 2 triệu euro (2,3 triệu đô la) vì báo cáo chưa đầy đủ các khiếu nại về nội dung bất hợp pháp trên nền tảng phương tiện truyền thông xã hội này, vi phạm luật quốc gia Đức về tính minh bạch của Internet.
![]() |
| Ảnh: PDA |
Trong một tuyên bố vào thứ ba, Văn phòng Tư pháp Liên bang Đức, cho biết bằng cách kiểm đếm chỉ một số loại khiếu nại nhất định, gã khổng lồ web đã tạo ra một bức tranh sai lệch về mức độ vi phạm trên nền tảng của mình.
Nhưng Facebook cho biết họ đã tuân thủ các nghĩa vụ minh bạch của mình theo luật, được gọi là ‘NetzDG, và nói thêm rằng một số khía cạnh của luật Luật “thiếu sự rõ ràng”. Facebook cho biết họ bảo lưu quyền kháng cáo phán quyết sau khi nghiên cứu.
Theo luật minh bạch mạng của Đức, các nền tảng truyền thông xã hội được yêu cầu báo cáo số lượng khiếu nại về nội dung bất hợp pháp mà họ đã nhận được. Khoản phạt đưa ra là dành cho Facebook không báo cáo đầy đủ các khiếu nại mà họ nhận được.
Năm 2018, Facebook cho biết họ đã nhận được 1.048 khiếu nại liên quan đến nội dung bất hợp pháp trên nền tảng của mình trong nửa cuối năm đó, theo báo cáo minh bạch.
Ngược lại, các báo cáo minh bạch từ Twitter và dịch vụ video YouTube Google YouTube đều báo cáo nhận hơn một phần tư triệu khiếu nại trong cả năm.
Phát ngôn viên của Facebook phản hồi về mức phạt cho biết “Chúng tôi muốn loại bỏ ngôn từ kích động thù địch một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất có thể và nỗ lực làm điều đó”.
Chúng tôi tin rằng các báo cáo NetzDG được công bố của chúng tôi là phù hợp với luật pháp, nhưng như nhiều nhà phê bình đã chỉ ra, luật này thiếu sự rõ ràng.
Đức có một số luật lệ về quyền riêng tư và ngôn từ nghiêm khắc nhất thế giới, sau đó được kết hợp với một số quy định truyền thông xã hội nghiêm ngặt nhất.
QM (Theo Reuters)
Phát triển vệ tinh để Việt Nam cung cấp Internet siêu băng rộng
Submitted by nlphuong on Sat, 29/06/2019 - 10:45“Hệ thống chùm vệ tinh mới, với những công nghệ mới có thể thành công trong kỷ nguyên Internet, có thể đem cung cấp dịch vụ Internet toàn cầu với giá thành rẻ, cạnh tranh”.
Ngày 28/6/2019, tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Liên minh Vệ tinh toàn cầu (GSC) tổ chức Hội thảo quốc tế về thông tin vệ tinh với chủ đề “Những tiến bộ trong công nghệ vệ tinh”. Cục Tần số Vô tuyến điện (VTĐ) là đơn vị chủ trì Hội thảo.
Đại biểu tham dự Hội thảo là những chuyên gia hàng đầu thế giới về thông tin vệ tinh đến từ Liên minh Vệ tinh toàn cầu - GSC; cơ quan quản lý các nước Campuchia, Lào, Myamar và các doanh nghiệp vệ tinh hàng đầu thế giới như Inmarsat, Intelsat, SES, OneWeb, Viasat, Thaicom, Asiasat cùng đại diện nhiều cơ quan, đơn vị trong nước.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ TTTT Phạm Hồng Hải phát biểu |
Tham dự và phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ TTTT Phạm Hồng Hải cho biết thế giới ngày nay đã thực sự đi vào kỷ nguyên Internet băng rộng, siêu băng rộng.
Cho đến thời điểm này, các giải pháp cung cấp băng rộng chủ yếu được dựa trên cáp quang, di động đặc biệt là mạng di động 4G và sắp tới là 5G. Các dự báo cho thấy, trong những năm tới nhu cầu tiêu dùng dữ liệu tiếp tục tăng mạnh, trong 6 năm tới nhu cầu sử dụng dữ liệu di động tăng tới 5 lần.
Những năm gần đây đang có xu hướng phát triển các chùm vệ tinh địa tĩnh và chùm vệ tinh phi địa tĩnh cung cấp Internet băng rộng toàn cầu như các chùm vệ tinh của Oneweb, SES, Boeing… với số lượng vệ tinh lên tới con số chục ngàn. Các hệ thống này được kỳ vọng sẽ cung cấp Internet băng rộng giá rẻ.
Thứ trưởng nhận định với lợi thế vùng phủ toàn cầu, nếu thành công, các hệ thống vệ tinh này sẽ làm thay đổi môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông, thậm chí có thể làm thay đổi trật tự truyền thống trong lĩnh vực viễn thông.
Bài học cuối những năm 90 thế kỷ trước, đầu năm 2000, trong kỷ nguyên của thoại các chùm vệ tinh như Global star, Iradium được kỳ vọng sẽ cung cấp dịch vụ di động toàn cầu nhưng thực tế đã không thành công như trông đợi.
Vì vậy, Thứ trưởng khẳng định: “Hệ thống chùm vệ tinh mới, với những công nghệ mới có thể thành công trong kỷ nguyên Internet, có thể đem cung cấp dịch vụ Internet toàn cầu với giá thành rẻ, cạnh tranh”.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng cho biết sự xuất hiện của các hệ thống này cũng đặt ra các câu hỏi cho công tác quản lý: việc cấp phép, cung cấp dịch vụ tại mỗi quốc gia, vấn đề sử dụng tài nguyên tần số, vấn đề đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng như thế nào cũng cần được đặt ra và xem xét.
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo |
Trong những năm gần đây, thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của chùm vệ tinh địa tĩnh băng tần Ka và chùm vệ tinh phi địa tĩnh cung cấp Internet băng rộng toàn cầu, như các hệ thống GX của Inmarsat, EpicNG của Intelsat, Viasat 3 của Viasat, Starlink của SpaceX, chùm vệ tinh của Oneweb, SES, Boeing.
Điển hình là SpaceX công bố kế hoạch triển khai chùm 12.000 quả vệ tinh và đã phóng thử nghiệm hơn 60 quả; OneWeb có kế hoạch triển khai 720 quả vệ tinh và đã phóng thử nghiệm 6 quả vệ tinh.
Các hệ thống này được xây dựng với mục đích cung cấp dịch vụ viễn thông giá rẻ cho hàng tỷ người dân ở các khu vực chưa có cơ hội tiếp cận Internet băng rộng. Trước đây, việc cung cấp dịch vụ Internet qua vệ tinh thông thường vẫn là lựa chọn cuối cùng cho khách hàng ở những khu vực không thể triển khai được các kết nối hữu tuyến hoặc di động (do các vấn đề về chi phí, tốc độ đường truyền và thiết bị đầu cuối). Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp đang tận dụng những thành tựu trong công nghệ vệ tinh để thay đổi điều này.
Theo dự báo của Viện Nghiên cứu quốc phòng Mỹ (IDA), trong vòng 10 năm tới, các tiến bộ trong công nghệ vệ tinh hiện nay sẽ được thương mại hóa và thế giới sẽ hình thành ít nhất một chùm gồm nhiều vệ tinh cung cấp dịch vụ Internet trên toàn cầu.
Phát triển vệ tinh đáp ứng hệ sinh thái ICT tại Việt Nam
Đại diện của Cục Tần số VTĐ, ông Nguyễn Huy Cương cho biết tính đến hết năm 2018, Việt Nam hiện có 5 vệ tinh đang hoạt động là VINASAT-1 và VINASAT-2, VNREDSat-1, F-1, PicoDragon. Trong số này, VINASAT-1 và VINASAT-2 là các vệ tinh truyền thông thông tin, trong khi các vệ tinh khác có nhiệm vụ khảo sát mặt đất và khoa học.
![]() |
| Ông Nguyễn Huy Cương, Cục Tần số VTĐ |
Đầu năm nay, Việt Nam đã phóng thành công vệ tinh thứ 6 là MicroDragon. Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2022, Việt Nam sẽ phóng thêm 3 vệ tinh nữa là NanoDragon, LOTUSat-1 và LOTUSat-2. Trong đó, LOTUSat-1 và LOTUSat-2 là các vệ tinh radar đầu tiên của Việt Nam với sự hợp tác của các chuyên gia tới từ Nhật Bản.
Các chùm vệ tinh là một cơ hội lớn, tuy nhiên cũng mang tới nhiều thách thức cho Việt Nam. Theo ông Nguyễn Huy Cương, một trong những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý đối với các vệ tinh là giấy phép dịch vụ cũng như việc tiếp cận một cách công bằng giữa các hệ thống thông tin di động mặt đất và vệ tinh trong sử dụng tài nguyên tần số.
“Các nhà khai thác viễn thông đã trả rất nhiều tiền để có được giấy phép sử dụng tần số. Tuy nhiên, các nhà khai thác vệ tinh thì lại không trả tiền cho việc sử dụng nguồn tài nguyên này”, ông Cương cho hay.
Vấn đề thứ hai là làm sao để đảm bảo được sự an toàn thông tin. Bên cạnh đó, việc phối hợp tần số và tính toán can nhiễu giữa các hệ thống phi địa tĩnh và địa tĩnh cũng là một vấn đề phức tạp mà Việt Nam đang tìm cách giải quyết. Đây là các vấn đề cần phải tìm ra câu trả lời bởi hàng ngàn vệ tinh sẽ được các công ty công nghệ phóng lên chỉ trong một vài năm tới.
Một số vấn đề quản lý nhà nước được đại diện Cục Tần số VTĐ cho biết là giấy phép dịch vụ, đảm bảo an toàn thông tin giúp người dùng kết nối với vệ tinh nhưng phải kiểm soát được ATTT. Việc điều phối chùm vệ tinh khá phức tạp do sự xuyên nhiễu mà hiện chưa có hướng dẫn của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) nên cần chuẩn bị cho nhân lực vì trong tương lai hàng ngàn vệ tinh địa tĩnh sẽ được phóng lên không gian.
Ông Cương cũng khẳng định: “Công nghệ vệ tinh đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội Việt Nam. Các chùm vệ tinh là cơ hội lớn và thách thức. Nếu làm việc cùng nhau thì sẽ đạt thành công để cung cấp Interrnet băng rộng cho tới mọi ngõ ngách trên hành tinh này”.
Ông Bashir Patel, Cố vấn cao cấp khu vực của GSC, cho biết: Nền kinh tế không gian toàn cầu chiếm 339,1 tỷ USD, trong đó các dịch vụ vệ tinh chiếm 127,1 tỷ , thiết bị mặt đất chiếm 113,4 tỷ USD.
![]() |
| Ông Bashir Patel, Cố vấn cao cấp khu vực của GSC |
Thế giới đang mở rộng các lợi ích của sự phát triển sáng tạo và công nghệ cho xã hội, do đó các khoảng cách số, giáo dục, y tế, xã hội… giữa các vùng địa lý, các nền kinh tế sẽ được thu hẹp nhờ các giải pháp vệ tinh. Khoảng cách số sẽ tồi tệ hơn với 5G nếu không có vệ tinh.
Mọi người tư duy là công nghệ di động giải quyết cho tất cả các vấn đề nhưng hệ sinh thái cần tất cả các công nghệ. Chúng ta cần có cái nhìn rộng kết hợp các công nghệ đưa ra giải pháp hiệu quả, và hệ sinh thái độc đáo sử dụng các công nghệ di động, cáp quang, vệ tinh để phục vụ những người khác nhau, độ trễ và mức độ sử dụng khác nhau và giải quyết các vấn đề khác nhau.
Có những quốc gia có tới 60% - 70% dân số sống ở nông thôn, sống bằng nông nghiệp và cần vệ tinh quan trắc để phát triển nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động.
Ông khẳng định: “Vệ tinh là một cấu phần quan trọng của toàn bộ hệ sinh thái ICT bên cạnh cáp quang, di động”.
Ông Bashir Patel cũng cho biết công nghệ vệ tinh đã đạt được nhiều tiến bộ. Hiện nay các vệ tinh đã nhẹ hơn, mang nhiều tải, bộ nhớ rẻ hơn, bộ xử lý nhanh hơn, có động cơ điện… giúp điều chỉnh búp sóng, có độ phủ rộng hơn.
![]() |
| Các tiến bộ trong công nghệ vệ tinh |
Vệ tinh là phần quan trọng của hệ sinh thái 5G
Nói về vai trò của vệ tinh đối với 5G, ông Peter Girvan, Phó Chủ tịch GSC phụ trách khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho biết khả năng của vệ tinh để mở rộng các mạng lưới là cần thiết cho một xã hội số bao trùm để đảm bảo rằng các lợi ích của 5G (hoặc thậm chí 4G) được cung cấp ở mọi nơi.
Mặt khác, 5G và 4G sẽ chỉ cung cấp băng thông rộng hơn cho những người đã được phủ sóng di động. Vệ tinh ngày nay đã mở rộng mạng thế hệ tiếp theo đến những nơi mà các công nghệ khác không thể tiếp cận - khả năng di động 2G/3G/4G được hỗ trợ bởi vệ tinh đến tận người dùng cuối, Wi-Fi nông thôn, cho băng rộng hàng không và hàng hải.
Các hệ thống vệ tinh thông lượng cao (HTS) mới - cả địa tĩnh và phi địa tĩnh - đang mang lại tốc độ truyền tải dữ liệu cao hơn, chi phí mỗi bit và độ trễ thấp hơn (khi cần) cung cấp mạng 4G và các mạng 5G /Wi-Gig (chuẩn kết nối không dây tốc độ siêu cao) nhờ sự hỗ trợ của vệ tinh trong tương lai.
Vệ tinh cũng hỗ trợ nhiều mạng IoT hiện nay (ví dụ: theo dõi tài sản toàn cầu và hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu SCADA) và có thể mở rộng để đáp ứng các yêu cầu IoT mở rộng trong tương lai, ví dụ: kết nối xe hơi, máy bay và tàu biển.
Lan Phương/ictvietnam.vn
Google, Facebook cần tuân thủ pháp luật Việt Nam
Submitted by nlphuong on Tue, 25/06/2019 - 23:46Bộ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh doanh nghiệp dù trong hay ngoài nước, các nền tảng xuyên biên giới như Google, Facebook khi hoạt động tại Việt Nam phải thượng tôn pháp luật Việt Nam.
Chiều 25/6, tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) đã tổ chức buổi làm việc nhằm chấn chỉnh hoạt động quảng cáo trên các nền tảng xuyên biên giới.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Mạnh Hùng chủ trì buổi làm việc |
Tham dự buổi làm việc có các doanh nghiệp (DN) có sản phẩm quảng cáo; các đại lý quảng cáo; các nền tảng nội dung số Việt Nam; Các Bộ ngành; Các cơ quan báo chí.
Buổi làm việc nhằm kêu gọi các DN, các đại lý quảng cáo, các nền tảng công nghệ Việt Nam, các cơ quan báo chí và người sử dụng mạng xã hội chung tay cùng Bộ TTTT "quét rác” trên môi trường mạng, bảo vệ sự an toàn cho các thương hiệu, xây dựng môi trường Internet lành mạnh, an toàn tại Việt Nam.
Clip xấu độc còn nhiều và chiều hướng gia tăng
Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Thanh Lâm, Cục trưởng Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử (PTTH&TTĐT), Bộ TTTT cho biết trong 2 năm vừa qua, Google đã hợp tác tích cực với Bộ TTTT trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ những video clip xấu độc trên YouTube theo yêu cầu của Bộ. Tuy nhiên, tình trạng các clip xấu độc được đăng tải trên nền tảng này vẫn còn rất nhiều và có chiều hướng gia tăng.
Qua rà soát của Bộ TTTT, hiện nay trên YouTube có khoảng 55.000 video clip có nội dung xấu độc vi phạm pháp luật. Đến ngày 25/6/2019, Cục PTTH&TTĐT phát hiện có khoảng 100 nhãn hàng trong nước xuất hiện quảng cáo trong các clip thông tin xấu độc.
![]() |
| Ông Nguyễn Thanh Lâm, Cục trưởng Cục PTTH&TTĐT chia sẻ bức tranh toàn cảnh về lĩnh vực quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam |
Nguyên nhân của tình trạng trên là bởi bộ lọc của YouTube hoạt động chưa hiệu quả, vẫn còn kẽ hở để người sử dụng đăng tải nội dung vi phạm núp dưới những tiêu đề, chuyên mục không vi phạm.Mặc dù trong thời gian qua, Google đã ngăn chặn, gỡ bỏ gần 8.000 video clip xấu độc trên YouTube theo yêu cầu của Cục PTTH&TTĐT nhưng do cơ chế quản lý nội dung trên YouTube còn rất nhiều bất cập (có thể vô tình hay cố ý) nên việc ngăn chặn gỡ bỏ này như "bắt cóc bỏ đĩa".
Cơ chế kiểm duyệt của YouTube phụ thuộc vào hậu kiểm, dẫn đến người dùng dễ dàng đăng tải các clip vi phạm, trong khi quy trình thẩm định và gỡ bỏ clip vi phạm mất nhiều thời gian.
Hiện không có biện pháp ngăn chặn người dùng đăng lại những clip vi phạm đã bị bóc gỡ theo yêu cầu của cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, YouTube vẫn cho phép bật tính năng gợi ý cho những kênh, clip xấu độc, khiến các nội dung xấu độc chiếm tỷ lệ rất nhỏ trên YouTube (0.1%) nhưng lại bị phát tán, lan truyền rất mạnh mẽ.
Đầu năm 2017, Bộ TTTT đã phát hiện tình trạng quảng cáo sản phẩm, dịch vụ của nhiều DN trong và ngoài nước, kể cả một số thương hiệu toàn cầu được gắn trong các video có nội dung xấu độc, phản động vi phạm pháp luật Việt Nam phát trên mạng xã hội YouTube thông qua dịch vụ quảng cáo của Google. Đặc biệt, dòng tiền quảng cáo này lại được Google chia sẻ cho các đối tượng sản xuất clip xấu độc, phản động. Điều này vô hình trung đã gián tiếp tiếp tay cho các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.
Theo đánh giá của Cục PTTH&TTĐT, đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về quảng cáo, là nguy cơ đáng lo ngại, gây ảnh hưởng đến sự an toàn, uy tín của các thương hiệu, doanh nghiệp. Việc tái diễn tình trạng này cho thấy các biện pháp khắc phục của Google không giải quyết được triệt để những vi phạm này, gây rủi ro các thương hiệu khi quảng cáo trên YouTube.
Cục PTTH&TTĐT cũng cho rằng, việc cho phép người dùng mua quảng cáo trực tiếp với YouTube, Google không thông qua đại lý quảng cáo trong nước đã vi phạm quy định tại Khoản 2, Điều 13, Nghị định số 181/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo đó, "Tổ chức, cá nhân Việt Nam có hàng hóa, dịch vụ muốn quảng cáo trên trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới phải thông qua người kinh doanh dịch vụ quảng cáo đã đăng ký hoạt động hợp pháp tại Việt Nam”
Ngoài ra, các đại lý quảng cáo của Google tại Việt Nam đã không chủ động kiểm soát việc đăng phát quảng cáo của các đối tác (nhãn hàng, thương hiệu) trên nền tảng YouTube. Điều này khiến tình trạng quảng cáo bị gắn vào các clip xấu độc tái diễn trở lại.
Các đại lý quảng cáo của Google tại Việt Nam cũng không báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động thực hiện dịch vụ quảng cáo liên quan đến các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam, vi phạm quy định tại Điểm c, Khoản 2 Điều 15, Nghị định 181/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
Trước tình trạng này, quan điểm của Bộ TTTT là kiên quyết yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới khi hoạt động tại Việt Nam phải tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam.
Kinh doanh trên tinh thần thượng tôn pháp luật
Trước những thực trạng này và sau khi lắng nghe các ý kiến, đề xuất các giải pháp của các bên liên quan, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ: “Các DN, dù là trong nước hay nước ngoài, thì đều phải tuân thủ luật pháp, thượng tôn pháp luật của nước sở tại. Đến đâu kinh doanh thì phải làm cho đất nước đo thịnh vượng, hoà bình. Thượng tôn pháp luật là điều kiện tiên quyết của bất kỳ DN tử tế nào. DN mà muốn đi xa thì phải tử tế”.
![]() |
| Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng kỳ vọng các nền tảng nội dung số Việt Nam lớn mạnh |
Việt Nam đang có một khát vọng lớn lao, Việt Nam thành nước công nghiệp phát triển, thịnh vượng vào năm 2045. Đây là khát vọng Việt Nam hùng cường, sánh vai cường quốc năm châu. Theo đó, mỗi DN Việt Nam phải mang trong mình khát vọng này. Sứ mạng của DN cũng phải là sứ mạng quốc gia. Các DN Việt Nam phải gương mẫu tuân thủ luật pháp Việt Nam để Việt Nam phát triển.
Bộ trưởng kêu gọi sự tuân thủ pháp luật Việt Nam của các nền tảng xuyên biên giới. "Các DN có nền tảng xuyên biên giới đến Việt Nam làm ăn, thu tiền, trở lên giầu có, thì cũng phải góp sức, góp phần cho đất nước này thịnh vượng hơn, ổn định và phát triển hơn. Việt Nam không chào đón các DN xuyên biên giới vào đây mà không tuân thủ luật pháp Việt Nam. Chính phủ Việt Nam sẽ sử dụng các biện pháp Pháp lý, biện pháp Kinh tế, biện pháp kỹ thuật để yêu cầu các bạn tuân thủ luật pháp".
Không gian mạng Việt Nam là môi trường sống của chúng ta, của các DN Việt Nam, các đại lý quảng cáo, các DN nền tảng Việt Nam, của báo chí Việt Nam và của người Việt Nam. Bởi vậy “phải chung tay làm sạch môi trường này, quét rác mỗi ngày. Môi trường này mà sạch thì thương hiệu của các bạn mới sạch. Con cháu chúng ta mới an toàn”.
Bộ trưởng kỳ vọng các nền tảng nội dung số Việt Nam như Zalo, Mocha, VCCorp sẽ lớn mạnh để phục vụ xã hội Việt Nam tốt hơn, nhờ hiểu văn hoá Việt Nam, xã hội Việt Nam nên không thể cứ kém các nền tảng nước ngoài.
“Chính phủ sẽ tạo ra môi trường bình đẳng cho các DN, trong nước và nước ngoài. Bộ TTTT có hẳn một cơ quan hỗ trợ sự phát triển này, các bạn có thể gặp gỡ, trao đổi, đề xuất các chính sách hỗ trợ”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Thủ tướng yêu cầu xác minh thông tin Asanzo nhập hàng nước khác gắn nhãn Việt Nam
Submitted by nlphuong on Mon, 24/06/2019 - 22:35Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan khẩn trương kiểm tra, xác minh thông tin báo chí phản ánh vụ việc Công ty cổ phần Điện tử Asanzo nhập khẩu sản phẩm sản xuất tại nước khác gắn nhãn xuất xứ Việt Nam.
![]() |
| Thủ tướng yêu cầu xác minh thông tin Asanzo nhập hàng nước khác gắn nhãn Việt Nam |
Thời gian qua, trên một số phương tiện truyền thông có nhiều bài báo phản ánh Công ty cổ phần Điện tử Asanzo Việt Nam nhập khẩu sản phẩm sản xuất tại nước khác nhưng gắn nhãn xuất xứ Việt Nam để bán ra thị trường Việt Nam.
Về việc này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan khẩn trương kiểm tra, xác minh thông tin báo chí phản ánh vụ việc Công ty cổ phần Điện tử Asanzo nhập khẩu sản phẩm sản xuất tại nước khác gắn nhãn xuất xứ Việt Nam để bán ra thị trường Việt Nam, làm rõ các vi phạm để xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.
Bộ Tài chính và Bộ Công Thương chỉ đạo các cơ quan chức năng (Hải quan, Quản lý thị trường…) rà soát lại việc thực hiện quản lý nhà nước và chức trách nhiệm vụ được giao trong vụ việc này, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm theo đúng quy định của pháp luật.
Nguồn: Thanh Quang/chinhphu.vn
Thủ tướng: E-Cabinet là bước thí điểm ban đầu quan trọng
Submitted by nlphuong on Mon, 24/06/2019 - 18:32“Chuyển sang một phương thức làm việc mới thì bao giờ cũng có nhiều điểm bỡ ngỡ, có khi còn e ngại và thấy khó khăn, những gì chúng ta đã làm quen bấy lâu rồi giờ thay đổi sẽ mất thời gian để làm quen và cần phải cập nhật, đào tạo lại”, Thủ tướng nói. Tuy nhiên, chúng ta phải quyết tâm xây dựng Chính phủ điện tử. Cần có e-Cabinet mang bản sắc Việt Nam. Không áp dụng máy móc mô hình của nước ngoài.
![]() |
| Thủ tướng phát biểu tại lễ khai trương hệ thống e-Cabinet - Ảnh: VGP/Quang Hiếu |
Phát biểu tại lễ khai trương hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet), Thủ tướng nhấn mạnh mục tiêu của hệ thống là giúp chuyển phương thức làm việc từ văn bản giấy sang môi trường điện tử, sử dụng văn bản điện tử, tạo môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả, giảm thời gian, tăng tính kịp thời, hiệu quả trong việc xử lý công việc của mình.
Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt đẩy mạnh việc xây dựng Chính phủ điện tử, bao gồm học hỏi, nghiên cứu kinh nghiệm thành công và không thành công của các nước, vận động hệ thống các công ty công nghệ, các cơ quan có liên quan vào việc giúp cho Chính phủ xây dựng Chính phủ điện tử.
Ghi nhận nỗ lực của VPCP và các bộ, cơ quan liên quan, Thủ tướng cho rằng “không phải chúng ta đã hoàn thiện mà đây chỉ là bước thí điểm ban đầu quan trọng”. E-Cabinet là một phương thức làm việc mới của chúng ta, nhưng trên thế giới ở rất nhiều quốc gia đã phát triển hệ thống này từ lâu và rất thành công trong xây dựng Chính phủ điện tử. Chúng ta phải rút ra kinh nghiệm thành công và không thành công từ các chính phủ để làm tốt hơn việc sử dụng hệ thống e-Cabinet tại Việt Nam.
“Chuyển sang một phương thức làm việc mới thì bao giờ cũng có nhiều điểm bỡ ngỡ, có khi còn e ngại và thấy khó khăn, những gì chúng ta đã làm quen bấy lâu rồi giờ thay đổi sẽ mất thời gian để làm quen và cần phải cập nhật, đào tạo lại”, Thủ tướng nói. Tuy nhiên, chúng ta phải quyết tâm xây dựng Chính phủ điện tử bởi đó là xu thế tất yếu, không ngoại trừ quốc gia nào. Chúng ta muốn xây dựng thành công nền kinh tế số và xã hội số thì trước tiên chúng ta phải có Chính phủ số mà khởi đầu là e-Cabinet ngày hôm nay khai trương. Lợi ích của e-Cabinet không chỉ dừng lại ở tiết kiệm thời gian họp hành mà là yêu cầu nội dung công việc phải được chuẩn bị tốt hơn cả về chất lượng và thời hạn để các thành viên tham dự có thể nghiên cứu trước và cho ý kiến. “Tôi muốn nói tới công tác chuẩn bị trước đó để sử dụng e-Cabinet phải chặt chẽ hơn, tốt hơn. Vì thường chúng ta đều biết Chính phủ quyết định những vấn đề quan trọng đặc biệt là việc xây dựng thể chế pháp luật phục vụ cho phát triển”.
![]() |
| Ảnh: VGP/Quang Hiếu |
Nhân dịp này, Thủ tướng đề nghị cần có khung cơ sở pháp lý để e-Cabinet hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Vấn đề chính ở đây là quy định về chia sẻ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu, xác thực điện tử, chế độ báo cáo giữa các cơ quan hành chính của Chính phủ, của Nhà nước.
Củng cố hạ tầng thông tin, bảo đảm sự thuận lợi, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, chống tin tặc, an ninh mạng và các hình thức phá hoại về thông tin.
Phát triển hệ thống phần mềm phù hợp với nội dung hoạt động, điều kiện, đặc điểm của Chính phủ Việt Nam, cần có e-Cabinet mang bản sắc Việt Nam. Không áp dụng máy móc mô hình của nước ngoài. Ví dụ, biểu quyết qua e-Cabinet có thể vắng mặt nhưng “chúng ta không khuyến khích sự vắng mặt”.
Thủ tướng nêu rõ, các thành viên Chính phủ cần quán triệt tinh thần tiên phong, quyết liệt nhập cuộc, đổi mới mạnh mẽ, nắm vững các thao tác để sử dụng thành thạo hệ thống này. Việc vận hành tích cực, có hiệu quả hệ thống này sẽ giúp cho Chính phủ sớm đạt mục tiêu giảm ít nhất 30% thời gian các phiên họp Chính phủ, đồng thời giảm tối đa sử dụng văn bản giấy trong các phiên họp Chính phủ.
![]() |
| Ảnh: VGP/Quang Hiếu |
Thủ tướng yêu cầu VPCP tiếp thu, hoàn chỉnh hệ thống trong thời gian tới, đặc biệt lưu ý phối hợp với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ trong việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh hệ thống, không để xảy ra sự cố lộ lọt thông tin, dữ liệu.
VPCP phối hợp với các bộ, ngành rà soát, kiến nghị sửa đổi quy chế làm việc của Chính phủ và các quy định pháp luật liên quan phù hợp với phương thức làm việc trên môi trường điện tử, trên không gian mạng.
Đồng thời với hệ thống e-Cabinet, cần ưu tiên tập trung rà soát, nâng cấp, hoàn chỉnh phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc trong nội bộ hiện nay. Thủ tướng cho biết, có ý kiến phản ánh phần mềm hiện nay còn bất cập.
Sau thời gian sử dụng thử nghiệm hệ thống e-Cabinet, Thủ tướng yêu cầu tiến hành đánh giá toàn diện hệ thống, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Các bộ, các tỉnh, thành phố phải nghiên cứu áp dụng mạnh mẽ hơn hệ thống công nghệ thông tin phổ cập hiện nay để hạn chế tối đa sự chậm trễ, hạn chế sự tiếp xúc giữa các cá nhân, cơ quan đơn vị với người, đơn vị giải quyết công việc, đẩy mạnh thanh toán điện tử, xây dựng ngay cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung, là những việc tiếp tục triển khai trong việc xây dựng Chính phủ điện tử.
Nguồn: Đức Tuân/chinhphu.vn
Ấn Độ, Việt Nam được cân nhắc dịch chuyển sản xuất iPhone khỏi Trung Quốc
Submitted by nlphuong on Thu, 20/06/2019 - 07:05Apple đã yêu cầu các nhà cung cấp lớn của mình đánh giá tác động của chi phí khi chuyển 15% -30% công suất sản xuất từ Trung Quốc sang Đông Nam Á khi họ chuẩn bị tái cấu trúc chuỗi cung ứng, theo báo cáo của Nikkei Asian Review ngày 19/6.
![]() |
| Ảnh: extremetech.com |
Yêu cầu Apple là kết quả của căng thẳng thương mại kéo dài giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, nhưng một giải pháp thương mại sẽ không dẫn đến thay đổi trong quyết định của công ty, Nikkei cho biết trích dẫn nhiều nguồn tin.
Nhà sản xuất iPhone đã quyết định những rủi ro của việc phụ thuộc nhiều vào sản xuất tại Trung Quốc là rất lớn và thậm chí đang tăng lên.
Đầu tháng này, cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch cho biết họ xem Apple, Dell Technologies và HP là những ứng cử viên trong danh sách tiềm năng nếu Trung Quốc liệt kê danh sách các công ty Hoa Kỳ để phản ứng vụ việc Huawei.
Các nhà lắp ráp iPhone chính gồm Foxconn, Pegatron, Wistron, nhà sản xuất MacBook lớn Quanta Computer, nhà sản xuất iPad Compal Electronics, và các nhà sản xuất AirPods Inventec, Luxshare-ICT và Goertek đã được yêu cầu đánh giá các lựa chọn bên ngoài Trung Quốc, Nikkei đưa tin.
Các quốc gia đang được Apple xem xét dịch chuyển sản xuất bao gồm Mexico, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Malaysia. Ấn Độ và Việt Nam là một trong những nước phù hợp cho việc dịch chuyển sản xuất điện thoại thông minh, theo Nikkei.
Tuần trước, Foxconn cho biết họ có đủ năng lực bên ngoài Trung Quốc để đáp ứng nhu cầu của Apple tại thị trường Mỹ nếu công ty cần điều chỉnh dây chuyền sản xuất, vì Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa sẽ áp thuế 300 tỷ USD đối với hàng hóa Trung Quốc.
Các nhà phân tích tại Wedbush Securities cho biết trong một trường hợp tốt nhất, Apple sẽ có thể chuyển 5% -7% sản lượng iPhone của mình sang Ấn Độ trong 12 - 18 tháng tới.
Với sự phức tạp và logistics liên quan, các nhà phân tích cho biết, sẽ mất ít nhất 2-3 năm để chuyển 15% sản lượng iPhone từ Trung Quốc sang các khu vực khác.
Các nhà phân tích của Wed Wedbush cho biết “đây là một trò chơi poker và Apple sẽ không đa dạng hóa sản xuất ra khỏi Trung Quốc chỉ sau một đêm và chắc chắn một thỏa thuận thương mại dài hạn giữa Mỹ và Trung Quốc là chìa khóa”.
Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Apple cũng như một trung tâm sản xuất lớn cho các thiết bị của công ty này. Công ty đã nhận được gần 18% tổng doanh thu từ Trung Quốc trong quý kết thúc vào tháng 3.
Đầu tháng 6, Tổng thống Mỹ đã gặp Giám đốc điều hành Apple Tim Cook để thảo luận về các vấn đề thương mại và các vấn đề nóng bỏng khác mà công ty công nghệ phải đối mặt khi Tổng thống Mỹ cân nhắc liệu có tăng thuế đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.
Một nhóm gồm hơn 30 người thuộc nhóm nghiên cứu chi phí vốn của Apple, đã đàm phán kế hoạch sản xuất với các nhà cung cấp và chính phủ về các ưu đãi tiền tệ có thể được đưa ra để thu hút sản xuất của Apple, báo cáo cho biết.
Theo Nikkei, một thời hạn chưa được đặt ra cho các nhà cung cấp để hoàn thiện các đề xuất kinh doanh của họ, và thêm rằng sẽ mất ít nhất 18 tháng để bắt đầu sản xuất sau khi chọn địa điểm.
QM (Theo Reuters)
Cắt giảm tới 60% sản lượng smartphone quốc tế, Huawei chiếm lĩnh lại thị trường trong nước
Submitted by nlphuong on Tue, 18/06/2019 - 06:35Huawei đang chuẩn bị cắt giảm 40% - 60% các lô hàng điện thoại thông minh quốc tế, thông tin của Bloomberg cho hay.
Công ty công nghệ Trung Quốc đang xem xét các lựa chọn bao gồm cả cắt giảm mẫu điện thoại thông minh mới nhất vừa được công bố ở nước ngoài, Honor 20, theo Bloomberg.
Thiết bị này sẽ bắt đầu được bán tại các khu vực của châu Âu, bao gồm cả Anh và Pháp, vào ngày 21/6. Lãnh đạo Huwei sẽ giám sát việc ra mắt và có thể cắt giảm các lô hàng nếu doanh số kém.
![]() |
| Smartphone Honor 20 của Huawei vừa được công bố tại London hồi tháng 5 |
Các giám đốc tiếp thị và bán hàng của Huawei đang dự báo sự sụt giảm từ 40 triệu đến 60 triệu điện thoại thông minh trong năm nay.
Để bù đắp sự sụt giảm ở nước ngoài, Huawei đang đặt mục tiêu chiếm lĩnh tới một nửa thị trường điện thoại thông minh Trung Quốc năm 2019, Bloomberg cho biết.
Hồi tháng 5, chính phủ Mỹ đã đưa Huawei, công ty thiết bị viễn thông lớn nhất thế giới, vào danh sách đen thương mại, cấm các nhà cung cấp Hoa Kỳ làm ăn với Huawei với lo ngại về an ninh quốc gia.
Vào thời điểm đó, người sáng lập và giám đốc điều hành của Huawei, ông Nhiệm Chính Phi, cho biết những hạn chế đó “thể làm chậm hoặc chỉ tác động nhẹ” sự phát triển của công ty.
Một lệnh cấm tương tự của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ZTE Corp, gần như làm tê liệt đối đối thủ nhỏ hơn Huawei này hồi đầu năm ngoái trước khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ.
QM (Theo Reuters)
Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam
Submitted by nlphuong on Mon, 17/06/2019 - 16:00Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã có bài viết "Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam."
![]() |
| Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN) |
TTXVN xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:
1. Cuối năm 2018, khởi lên từ đoạn video của một nghệ sỹ accordion thể hiện sự bất mãn về chính sách thuế được đưa lên mạng xã hội, những cuộc biểu tình mang tên “Phong trào áo Vàng” đã gây khủng hoảng triền miên trong suốt thời gian qua ở Pháp. Phong trào lan nhanh bởi những lời kêu gọi phát tán trên mạng xã hội đã thổi bùng cơn giận dữ, vượt xa mục tiêu ban đầu là kích động biểu tình để phản đối chính sách, trở thành bạo loạn.
Nhìn lại các cuộc “cách mạng màu” hay các cuộc biểu tình bạo động mang hơi hướng của “cách mạng màu” được hiện đại hóa trong mấy thập niên gần đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, chính truyền thông xã hội đã châm ngòi, thổi bùng bằng kích động, tổ chức và thông tin, khiến ban đầu là các phong trào đường phố, đi đến bạo động và hệ quả là sự suy yếu nhanh chóng của các chế độ như ở Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi, Mỹ Latinh (1).
Truyền thông xã hội, tin giả đã trở thành từ khóa làm nhiều người liên tưởng tới những cuộc xuống đường bạo động khiến cả châu Âu và thế giới đứng ngồi không yên suốt thời gian qua. Ngay tại Mỹ, sau những cuộc biểu tình chiếm phố Wall (năm 2011), giới chính trị gia đã chỉ trích đích danh Facebook, Twitter là “công cụ của bạo loạn.”
Báo chí phương Tây cũng đúc rút phương thức dùng truyền thông xã hội tạo nên những “đám đông” kích động, đó là: châm ngòi xuống đường; triệt để lợi dụng các sự cố, tai nạn, những cái chết để tạo cớ bạo loạn; sử dụng điện thoại di động, mạng xã hội để kích động và liên kết trong, ngoài (2).
Truyền thông xã hội là một “dòng chảy thông tin” trên nền tảng, dịch vụ công nghệ cho phép người dùng tạo ra, chia sẻ, trao đổi, thảo luận và thay đổi các nội dung, thiết lập thành các mạng lưới liên kết và tương tác xã hội (3).
Truyền thông xã hội, nhất là mạng xã hội liên tục được nâng đỡ, hỗ trợ bởi những công nghệ mới, ngày càng tiện ích hơn, trở thành kênh quan trọng, thúc đẩy quá trình giao tiếp và kết nối xã hội.
Các thuật toán cho phép các nền tảng truyền thông xã hội thiết lập các cộng đồng hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau (diễn đàn, nhóm, hội công khai, hoặc bí mật...) có thể thu hút từ hàng nghìn lên đến hàng triệu thành viên, không giới hạn về địa lý, thành phần xã hội.
Sự tiếp cận đến từng cá nhân người dùng với tốc độ nhanh tạo ra nhiều cơ hội và lợi ích về truyền tải, tiếp nhận, chia sẻ, thông tin, tri thức; phục vụ các nhu cầu đa dạng của cộng đồng như: kết bạn, giải trí, kinh doanh, bày tỏ quan điểm, phản biện xã hội, lan tỏa những điều tốt đẹp... Đồng thời, cũng từ các nền tảng truyền thông xã hội bộc lộ những tác động tiêu cực, ẩn chứa những nguy cơ phức tạp, khó lường, thậm chí có khả năng gây chia rẽ sâu sắc, kích động hận thù trong các cộng đồng xã hội, nhất là ở các quốc gia đa sắc tộc, tôn giáo.
Yuval Noah Harari không hề phóng đại nỗi lo lắng toàn cầu khi cho rằng Internet, mạng xã hội “là một vùng đất tự do và vô luật làm xói mòn chủ quyền quốc gia, phớt lờ các biên giới, phá hủy quyền riêng tư và đem lại mối đe dọa an ninh toàn cầu có thể nói là đáng sợ nhất”(4).
Với những tác động nhiều chiều, có thể xem không gian mạng như “miền chiến sự thứ năm” (5), ở đó, truyền thông xã hội đóng vai trò là một thứ “quyền lực,” vượt mặt truyền thông chính thống, thách thức các biện pháp quản lý hành chính và kỹ thuật của tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển.
Nguồn thu lớn từ truyền thông xã hội vẫn đang đổ về quốc gia phát triển có trình độ công nghệ cao, những dữ liệu cá nhân đang ở trong tay số ít các đại gia công nghệ nước ngoài khiến kinh tế, luật pháp, an ninh, chủ quyền đều bị đe dọa.
Có người ví Facebook như một “quốc gia” lớn và chắc chắn có thông tin về các “công dân” của nó nhiều hơn bất kỳ chính phủ nào. Khi “dữ liệu trên mạng” là tài nguyên, thông tin là quyền lực, thì chúng ta có cơ sở để lo lắng rằng người nắm quyền “sở hữu thông tin” sẽ “tạo ra nhiều nguy cơ mới, đồng thời khuếch đại những nguy cơ khác” (6).
Vụ bê bối dữ liệu do Cambridge Analytica, công ty phân tích dữ liệu chính trị tiếp cận trái phép và “đầu độc thông tin chính trị” tới 87 triệu người dùng là bài học đắt giá làm cho câu hỏi: “Làm thế nào để quản lý được quyền sở hữu thông tin?” trở thành “câu hỏi mang tính chính trị quan trọng nhất trong kỷ nguyên của chúng ta” (7).
Trước những thách thức hiện hữu và nguy cơ tiềm ẩn đòi hỏi phải tư duy lại về mô hình và cách thức quản trị không gian mạng, các quốc gia đang ráo riết thiết lập những hàng rào bảo vệ bằng việc đưa ra những biện pháp cứng rắn. Bởi lẽ, “Quyền quyết sách đối với những vấn đề chính sách công liên quan tới mạng Internet là chủ quyền của các nước” (8).
Đức đã thông qua luật về quản lý mạng xã hội (NetzDG), theo đó, những dịch vụ mạng xã hội nếu để xảy ra tình trạng người dùng lăng mạ, gây thù oán hay phát tán các tin tức giả mạo sẽ đối mặt với án phạt nặng có thể lên tới 50 triệu euro.
Australia tuyên bố sẽ phạt các công ty cung cấp dịch vụ mạng và các trang mạng xã hội, có thể phạt tới 10% tổng thu nhập hàng năm, thậm chí phạt tù lên tới ba năm đối với người điều hành nếu không loại bỏ hoàn toàn các nội dung xấu. Luật chống tin giả của Ai Cập cho phép cơ quan chức năng quyền giám sát các tài khoản cá nhân trên những mạng xã hội có trên 5.000 người theo dõi.
Luật An ninh mạng của Thái Lan quy định đối tượng phát tán tin giả sẽ phải chịu 7 năm tù. Philippines mới đây cũng ban hành luật quy định hoạt động truyền bá thông tin giả mạo bị coi là tội phạm hình sự, bị phạt tới 6 tháng tù, kèm khoản tiền phạt hơn 3.000 USD.
Còn Singapore, vừa thông qua Dự luật Bảo vệ khỏi sự thao túng và lừa dối trực tuyến. Người lan truyền tin giả với dụng ý xấu, gây tổn hại nghiêm trọng lợi ích cộng đồng có thể đối mặt với bản án 10 năm tù, các công ty mạng xã hội nếu không tuân thủ các quy định có thể bị phạt lên đến 1 triệu đô la Singapore (9)...
2. Trong bối cảnh bất ổn gia tăng ở nhiều nơi trên thế giới, sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam là một lợi thế quan trọng để phát triển. Nhờ nhất quán quan điểm: “Ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động, tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được” (10) mà môi trường chính trị, xã hội ổn định, an ninh, an toàn được giữ vững, nội lực đất nước được khơi dậy và phát huy, ngoại lực được tiếp nhận và sử dụng hiệu quả, nên sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư, của du khách, là điểm hẹn của khát vọng hòa bình thế giới.
Ổn định chính trị, xã hội dựa vào những nhân tố bên trong và bên ngoài. Trong đó, nhân tố cốt lõi là “yên dân”, là đoàn kết và đồng thuận, là niềm tin xã hội. Trong quá trình dựng nước, giữ nước, các bậc minh quân luôn coi “yên dân” là “kế sâu rễ bền gốc,” “gốc có vững thì cây mới yên,” thế nước mới vững bền.
Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cho thấy, “dân là gốc” là tư tưởng dẫn dắt, chi phối đường lối, chủ trương, chính sách, hoạt động của Đảng và Nhà nước; là một trong những bài học kinh nghiệm lớn trong lãnh đạo của Đảng.
Không ngừng chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân, vun đắp cho mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng là nền tảng cho sự ổn định chính trị, xã hội của nước ta trong thời gian qua. Tuy vậy, việc “yên dân” hay lòng dân, niềm tin, đồng thuận xã hội lại luôn bị thử thách, biến động không ngừng trong dòng chảy của thế sự, thời cuộc và các va đập của lịch sử. Năm nay thế này, năm sau có thể thế khác với rất nhiều yếu tố, tầng nấc đan xen tác động. Trong đó, báo chí, truyền thông nói chung, truyền thông xã hội nói riêng có vai trò rất quan trọng.
Sau hơn 20 năm Internet có mặt (từ năm 1997), với hơn 60 triệu người sử dụng, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân sử dụng Internet và là 1 trong 10 nước có lượng người dùng Facebook và YouTube cao nhất thế giới. Điều đó cho thấy sự cởi mở, năng động của Việt Nam trong tiến trình hội nhập cùng thế giới số.
Cũng như các quốc gia khác trên toàn cầu, Việt Nam đang khai thác và phát huy những đặc tính ưu việt của truyền thông xã hội, đồng thời, cũng đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực khó kiểm soát từ dạng thức truyền thông mới này.
Có thể nhận thấy, “hệ sinh thái” mạng xã hội đã hình thành tầng lớp KOLs (Key Opinion Leader), influencers là những người có “thương hiệu” hoặc là “người bình thường” mà thông tin, quan điểm nêu ra có sức thu hút, ảnh hưởng, được “cư dân mạng” chia sẻ, khuếch tán nhanh trên phạm vi rộng. Họ đa phần là những chủ thể tích cực góp phần tạo nên đời sống thông tin lành mạnh. Nhưng, cũng đã lộ diện những KOLs, influencers có động cơ không trong sáng, nền tảng văn hóa thấp, bất mãn chế độ, thậm chí từng vi phạm pháp luật nhưng lại biết “khơi gợi những cảm xúc xấu xa;” lạm dụng chữ nghĩa, ảo tưởng “quyền lực bàn phím,” luôn tìm cách điều hướng dư luận; tấn công doanh nghiệp nhằm trục lợi; đe dọa, xúc phạm cá nhân, tổ chức... Một số được nuôi dưỡng, cấp phát từ các tổ chức thù địch bên ngoài. Lợi dụng những bất cập trong quản lý nhà nước về Internet, mạng xã hội, chúng thâm nhập vào các nền tảng truyền thông xã hội, “nuôi” nick (tên tài khoản), lập ra hàng trăm nghìn tài khoản ảo và nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức. Với nhiều thủ đoạn tinh vi được hỗ trợ bởi công nghệ, chúng tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc tư tưởng cực đoan, tạo bất đồng, xung đột trong nội bộ Đảng và nhân dân. Chúng cường điệu những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý để khoét sâu vào xung đột lợi ích, làm chia rẽ xã hội, suy giảm lòng tin, thực hiện “diễn biến hòa bình”, đòi lật đổ chế độ. Từ đó, lôi kéo, tập hợp lực lượng, kích động biểu tình trái phép, chống đối, bạo loạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội như trong các vụ lợi dụng vấn đề môi trường tại Formosa Hà Tĩnh, phản đối Dự Luật về Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, Luật An ninh mạng...
Có hiện tượng KOLs, influencers được hỗ trợ “không trong sáng” từ những thông tin mật trong nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước bị rò rỉ, không loại trừ có cả những cái “bắt tay với âm binh” vô cùng nguy hiểm của những cán bộ suy thoái, cơ hội chính trị, đầy tham vọng cá nhân. Việc các chính trị gia sử dụng truyền thông xã hội làm công cụ để giao tiếp với công chúng, xây dựng hình ảnh hay vận động chính trị không phải là mới mẻ trên thế giới và có thể khuyến khích ở Việt Nam nhưng cần phải được xác lập thành một trong những nguyên tắc hành xử chính trị công khai và minh bạch. Còn việc “đi đêm” với các nhân tố mạng xã hội để tạo “sóng” trong dư luận, vì ý đồ và động cơ cá nhân là điều không thể chấp nhận.
Sự lệch lạc trong nhận thức về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ dẫn đến sai lầm trong hành vi, tạo nên những mối nguy về an ninh, bất ổn chính trị, xã hội. Một bộ phận người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam thường có xu hướng quan tâm, thích (like) và chia sẻ (share) thông tin giật gân, tiêu cực, trái chiều hơn thông tin tích cực, một cách cố tình hoặc vô ý thức, bất chấp các hậu quả. Nhiều người cho rằng mạng xã hội là ảo, không phải chịu trách nhiệm về những phát ngôn, hành xử của mình. Tâm lý đó cộng hưởng với các công cụ được tạo ra để thu hút người dùng của truyền thông xã hội, cùng với sự bất cập, hạn chế trong quản lý của các cơ quan chức năng càng làm cho việc phát tán thông tin xấu, độc trở nên dễ dàng và nguy hiểm.
Những nghiên cứu gần đây chỉ ra, hiện tượng tin giả, các phát ngôn thù ghét, nói xấu, phỉ báng, vu khống, bịa đặt, kỳ thị dân tộc, tôn giáo, kỳ thị giới tính, các hành vi gây hấn, tấn công trên mạng,… đang trở nên đáng báo động (11). Những hành vi lệch lạc này có thể làm khủng hoảng đời sống của cá nhân, tổ chức, gây nặng nề và trầm cảm xã hội, thậm chí những “cơn bão mạng” có thể “khai tử” doanh nghiệp, có cá nhân đã lựa chọn cái chết làm lối thoát.
Tác động xấu từ truyền thông xã hội có thể dẫn đến những hậu quả trực tiếp, tức thì, nhưng cũng có những hậu quả len lỏi, lâu dài tích tụ vào ứng xử, lối sống, dần dần phá vỡ những hệ giá trị văn hóa và đạo đức tốt đẹp. Những đổ vỡ về giá trị, những tổn thương về tâm lý ảnh hưởng đến đời sống mỗi cá nhân, từ đó, tác động đến ổn định chính trị, xã hội của quốc gia. Các nhà xã hội học cho rằng, việc dành quá nhiều thời gian cho mạng dẫn đến “cô lập với xã hội thực tại,” “xao nhãng các quan hệ đời thực,” “tin vào đó mà không dành thời gian cho các quan sát, trải nghiệm và tương tác thực tế để đưa ra các quyết định đúng đắn,” thậm chí lệch lạc về nhận thức, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt với giới trẻ. Về lâu dài, có thể khiến sự cố kết xã hội bị rạn nứt sâu sắc, gây phân rã, khó tạo nên sự đồng thuận trong việc chung tay giải quyết các vấn đề của cộng đồng, quốc gia hay nhân loại (12).
3. Có những ý kiến về việc mạng xã hội đã qua đi thời khắc đỉnh cao và đang chững lại. Có những đánh giá lạc quan rằng người dùng mạng xã hội đang dần trở nên sáng suốt hơn, bình tĩnh hơn, trang bị bộ lọc tốt hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn sau khi bị tin giả lừa đảo nhiều lần. Nhưng trong thực tế, có thể khẳng định, truyền thông xã hội là một “mặt trận” ngày càng phức tạp, mở rộng mà các thế lực thù địch đang lợi dụng để thúc đẩy các “yếu tố cách mạng sắc màu ở Việt Nam.”
Bài học từ những cuộc “cách mạng màu” cho thấy không thể chủ quan, lơ là mà cần phải chủ động nhận diện, ngăn chặn kịp thời những nhân tố lợi dụng truyền thông xã hội để tác động đến ổn định chính trị, xã hội từ nhiều hướng, nhiều cách thức khác nhau. Yêu cầu ấy đòi hỏi phải nhìn nhận đúng về truyền thông xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực, nhận diện và quản lý những tác nhân gây ảnh hưởng để bảo vệ, phát huy những giá trị tiến bộ được xã hội thừa nhận, đồng thời hạn chế, đẩy lùi, triệt phá những tác động tiêu cực bằng những giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ và hiệu quả.
Một là, trong lãnh đạo, chỉ đạo cần tiếp tục quán triệt, nhận thức đúng, đầy đủ quan điểm: “không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet theo kịp sự phát triển của công nghệ Internet,... chủ động, kiên trì thúc đẩy phát triển đúng hướng đi đôi với quản lý chặt chẽ”(13). Xác định rõ, đây là môi trường mở, độc đáo, đặc biệt quan trọng nằm bên cạnh dòng chảy thông tin của truyền thông truyền thống cần được khai thác tối đa mặt tích cực, cổ vũ những giá trị tiến bộ, định hướng và tiến hành đấu tranh đối với những nhận thức, tư tưởng, quan điểm sai trái. Do đó, phải chủ động đánh giá, dự báo chính xác tình hình; chú trọng giải quyết thấu đáo các vấn đề bức xúc của người dân; khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập, không để hình thành “điểm nóng,” những xu hướng (trend) tiêu cực trên mạng xã hội. Các cơ quan chức năng cần cung cấp thông tin cho báo chí một cách đầy đủ, công khai, minh bạch, kịp thời, nhất là với các vấn đề quan trọng được người dân quan tâm, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh truyền thông xã hội. Đồng thời, giữ nghiêm kỷ luật thông tin, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm khắc với các phần tử cơ hội chính trị, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” cố tình làm lộ lọt, cung cấp thông tin nội bộ, hỗ trợ cho các phần tử mạng xã hội đưa tin sai sự thật, kích động, tấn công vào nội bộ.
Hai là, khẩn trương thể chế hóa, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý trong thực tiễn; tích cực xây dựng khung khổ pháp luật khoa học, tiến bộ để truyền thông xã hội hoạt động, phát triển lành mạnh, đúng hướng. Thời gian qua, những thay đổi chóng mặt về thuật toán của các nền tảng công nghệ “làm khó” cả về nhận thức và hành động khiến các cơ quan chức năng vốn đã chậm trễ, hạn chế trong quản lý không gian mạng lại càng lúng túng, bất cập, chưa theo kịp trong việc hoạch định chính sách, pháp luật đối với truyền thông xã hội. Để quản lý tốt, cần nhanh chóng tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật với các điều khoản cụ thể, rõ ràng, sát thực, phù hợp, theo kịp tốc độ biến động của truyền thông xã hội... thay vì chỉ dừng ở quy tắc điều chỉnh mang tính khuyến nghị đạo đức và văn hóa. Bởi lẽ, khi các ràng buộc pháp lý không cụ thể, rõ ràng và đủ mạnh thì các quy tắc đạo đức, văn hóa cũng rất khó để đi vào cuộc sống.
Kiên trì vấn đề có tính nguyên tắc là các nhà mạng, nhà cung cấp dịch vụ, khai thác dịch vụ nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới phải có trách nhiệm tuân thủ luật pháp Việt Nam, tôn trọng chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam. Yêu cầu các đối tác phải thể hiện sự hợp tác, tuân thủ các quy định khi vào Việt Nam như đặt cơ quan đại diện, thiết lập tính chính danh của người dùng trong đăng ký tài khoản, phối hợp tích cực để kịp thời bóc gỡ những trang mạo danh các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, xóa bỏ triệt để các tài khoản đưa thông tin sai sự thật,... Cần coi trọng hơn các biện pháp kinh tế, yêu cầu trách nhiệm của những doanh nghiệp phải tương xứng với lợi ích mà họ được hưởng. Tích cực triển khai thực hiện Luật An ninh mạng với các chế tài đủ mạnh để răn đe, xử lý những hành vi vi phạm, gây hại như lưu trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán tin giả, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nói xấu, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước trên Internet, mạng xã hội...
Ba là, phát huy vai trò chủ động, tiên phong, dẫn dắt, định hướng của báo chí trong thông tin tích cực. Báo chí cách mạng cần khẳng định hơn nữa vai trò, vị thế của mình trong thời đại kỹ thuật số. Dòng thông tin tích cực của báo chí vẫn phải là dòng thông tin chủ lưu với thông tin chất lượng, chính xác, kịp thời, khách quan, là bộ lọc đáng tin cậy về mọi vấn đề xã hội, dư luận quan tâm. Vì vậy, phải khẩn trương tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Luật Báo chí năm 2016, sửa đổi bổ sung, hoàn chỉnh Luật cũng như các văn bản dưới Luật để hoàn thiện hơn nữa môi trường pháp lý cho hoạt động báo chí. Xác định rõ tiêu chí đối với từng loại hình thông tin điện tử nhất là báo điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội; có quy định để điều chỉnh hoạt động của các công ty công nghệ chuyên cung cấp thông tin báo chí. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản, của cơ quan báo chí trong thực hiện tôn chỉ, mục đích và nội dung thông tin, trong hợp tác hoạt động báo chí, trong đầu tư nền tảng công nghệ số cho sự phát triển vươn tầm của báo chí. Thực hiện ngay quy hoạch báo chí đã được phê duyệt trong năm 2019, rà soát cấp phép lại hoặc thu hồi giấy phép hoạt động đối với các tổ chức, cơ quan trong thời gian qua đã buông lỏng quản lý, có nhiều vi phạm trong hoạt động báo chí. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng những người làm báo về bản lĩnh chính trị, về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, công nghệ, trau dồi đạo đức, ý thức về sứ mệnh nghề nghiệp, thực hiện tốt quy định về trách nhiệm và chuẩn mực khi tham gia mạng xã hội.
Bốn là, thúc đẩy các giải pháp công nghệ, các biện pháp kỹ thuật phù hợp bắt kịp với sự phát triển của Internet, mạng xã hội. Khuyến khích mạng xã hội có nền tảng công nghệ trong nước phát triển, khuyến khích các cơ quan, tổ chức trong nước xây dựng mạng xã hội nội bộ. Tăng cường ứng dụng công nghệ để phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các thông tin sai sự thật, xấu, độc có ảnh hưởng đến ổn định chính trị, xã hội. Nâng cao năng lực phân tích, điều tra, nghiên cứu công chúng, đo lường thái độ của người sử dụng Internet, tham gia truyền thông xã hội đối với những vấn đề được dư luận quan tâm.
Năm là, truyền thông xã hội khác biệt vì nội dung do người dùng tạo ra và thông tin mang tính cá nhân hóa cao, do đó, sự quản lý của Nhà nước là cần thiết nhưng quan trọng nhất vẫn là ý thức người dùng. Việc người dùng nâng cao sức “đề kháng”, trang bị hiểu biết về pháp luật, bộ lọc văn hóa tốt, ứng xử văn minh, lịch lãm trong tranh luận, phản biện, có năng lực về tin tức, đánh giá được độ tin cậy của thông tin trên truyền thông xã hội là rất quan trọng. Có như vậy, việc khai thác, sử dụng mạng xã hội mới hiệu quả, thiết thực và lành mạnh, người dùng mới có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc.
Cho nên, cần chú trọng tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức, trách nhiệm khi tham gia các nền tảng truyền thông xã hội của mọi công dân. Giáo dục định hướng giá trị để người trẻ biết tránh khỏi các biểu hiện lệch lạc về nhận thức và hành vi; trang bị cho học sinh, sinh viên kỹ năng tự bảo vệ thông tin cá nhân, cách thức chắt lọc, tiếp nhận thông tin.
Phát huy vai trò của các tổ chức và cá nhân, nhất là những người điều hành website, blog, fanpage, các KOLs, influencers, người trẻ trong xây dựng môi trường Internet, mạng xã hội lành mạnh. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia mạng xã hội phải giữ vai trò là lực lượng nòng cốt đăng tải, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực và xem đây là giải pháp thường xuyên, lâu dài.
Việt Nam đang là một quốc gia có chính trị, xã hội ổn định và trên đà phát triển, tuy nhiên, cũng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định. Tạo lập môi trường thông tin lành mạnh, an toàn, trong đó, truyền thông xã hội là một trong những nguồn lực thông tin quan trọng, sẽ góp phần tích cực, hiệu quả, bảo vệ, gìn giữ môi trường chính trị, xã hội ổn định làm nền tảng cho đất nước phát triển bền vững./.
-----------------------------------
(1) Từ “Cách mạng nhung” ở Nam Tư năm 2000, “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia năm 2003, “cách mạng cam” ở Ukraine năm 2004, “cách mạng hoa tuy líp” ở Kyrgyzstan năm 2005, “cách mạng màu Jean” ở Belarus năm 2006, đặc biệt, “Mùa xuân Arab” ở Tunisia, Ai Cập năm 2010 lan sang Libya, Sirya năm 2011, cho đến những biến động chính trị, xã hội gần đây ở Hy Lạp, Venezuela, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Áo, Pháp... đều có vai trò tác động của truyền thông xã hội.
(2) Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trung tâm Thông tin khoa học Quân sự, Bộ Quốc phòng: Hiểm họa từ mặt trái của Internet, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2016, trang 50.
(3) Hội thảo khoa học thuộc đề tài cấp nhà nước KX.01.10/16-20: Mạng xã hội trong bối cảnh phát triển thông tin ở Việt Nam.
(4) Yuval Noah Harari: Lược sử tương lai, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2018, trang 445.
(5) Bên cạnh mặt đất, bầu trời, biển cả và vũ trụ.
(6) Jean Tirole, nhà kinh tế học giành giải Nobel: Quản lý các tác nhân gây xáo trộn, Dự báo 2019, Đại biến động, TTXVN, Project Syndicate, Hà Nội, 2018, trang 92.
(7) Yuval Noah Harari: 21 Lesson for the 21st Century, Jonathan Cape, London, 2018, p. 80.
(8) Liên hợp quốc: Tuyên bố nguyên tắc Xây dựng xã hội thông tin: Thách thức toàn cầu trong thiên niên kỷ mới, Mục a, Điều 49 (WSIS-03/GENEVA/DOC), Hội nghị thượng đỉnh về xã hội thông tin, Gieneva, 12/12/2003.
(9) Theo Nhân dân điện tử: Cuộc chiến chống tin giả và nội dung bạo lực trên mạng xã hội, 10/4/2019 (http://www.nhandan.com.vn/thegioi/item/39805002-cuoc-chien-chong-tin-gia...); Theo Vietnamnet.vn: Singapore: Luật chống tin giả khiến người dùng mạng xã hội phải cẩn trọng, 14/05/2019 (https://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/tin-cong-nghe/singapore-luat-chong-ti...)...
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa X, VII, VIII, IX, X), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, P.I, trang 40.
(11) Theo khảo sát của chương trình nghiên cứu Internet và xã hội (VPIS) thuộc Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2017).
(12) Nhóm tác giả Nguyễn Hoài Sơn, Lê Quang Ngọc, Nguyễn Quang Tuấn, Nguyễn Đức Vinh, Viện xã hội học, Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam: Một số chiều cạnh biến đổi xã hội trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, (http://www.haiphong.gov.vn/PortalFolders/ImageUploads/SKHCN/12/Cong%20ng...).
(13) Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X ngày 25/12/2013 về “Phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet.”






















